Bệnh truyền nhiễm
Khoa Bệnh truyền nhiễm tại Cơ sở Hồng Lâu, Bệnh viện trực thuộc số 10 của Đại học Y khoa Phương Nam (Bệnh viện Nhân dân thành phố Đông Quan), là một chuyên khoa tổng hợp kết hợp khám chữa bệnh, giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Khoa được thành lập năm 1980, là chuyên khoa bệnh truyền nhiễm được thành lập sớm nhất và có quy mô lớn ở thành phố Đông Quan. Khoa là đơn vị đảm nhiệm chức Phó Chủ nhiệm Ủy ban Chuyên môn Quản lý Bệnh truyền nhiễm thuộc Hiệp hội Bệnh viện tỉnh Quảng Đông, đơn vị đảm nhiệm chức Phó Chủ nhiệm Ủy ban Chuyên môn Bệnh truyền nhiễm thuộc Hội Y dược cơ sở tỉnh Quảng Đông, đơn vị đảm nhiệm chức Phó Chủ nhiệm Phân hội Bệnh truyền nhiễm thuộc Hội Y học thành phố Đông Quan, đơn vị nòng cốt của Trung tâm Nghiên cứu các bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng mới phát sinh ở Vùng Vịnh Lớn, và đơn vị đảm nhiệm chức Chủ nhiệm Ủy ban Chuyên môn Bệnh gan thuộc Hội Y học thành phố Đông Quan.
Qua hàng chục năm phát triển và tích lũy, năng lực chuyên môn của khoa không ngừng được nâng cao, chiều sâu chuyên môn không ngừng được mở rộng. Hiện nay, khoa có nhiều khu vực chức năng như Khoa Bệnh truyền nhiễm (khu nội trú), phòng khám bệnh gan, phòng khám Quan tâm, phòng khám sốt..., với 28 giường bệnh được đưa vào sử dụng; môi trường khu bệnh thoải mái, công tác quản lý được chuẩn hóa. Số lượt khám ngoại trú hằng năm của khoa đạt hơn 300.000 lượt, trong đó phòng khám sốt có 260.000 lượt, phòng khám bệnh gan gần 60.000 lượt; số lượt điều trị nội trú hằng năm là hơn 900 lượt, số lượt điều trị bằng gan nhân tạo hằng năm là hơn 100 ca.
Khoa có đội ngũ kỹ thuật y tế vững mạnh, công tác xây dựng đội ngũ nhân lực theo tầng bậc được hoàn thiện. Hiện nay, khoa có tổng cộng 34 nhân viên y tế, trong đó có 5 bác sĩ trưởng khoa, 4 bác sĩ phó trưởng khoa, đội ngũ điều dưỡng gồm 21 người; trong đội ngũ bác sĩ có 6 người có trình độ thạc sĩ hoặc tiến sĩ. Khoa được trang bị nhiều thiết bị tiên tiến như ống soi phế quản sợi, máy siêu âm Doppler màu, máy thở (bao gồm máy thở không xâm lấn), máy lọc máu, thiết bị oxy liệu pháp làm ẩm lưu lượng cao, máy tống đờm cơ học, chăn hạ nhiệt, máy theo dõi điện tim, máy khử rung tim bằng điện..., bảo đảm triển khai các kỹ thuật tiên tiến của khoa.
Hiện nay, phạm vi hoạt động chuyên môn của Khoa Bệnh truyền nhiễm bao phủ 32 trấn/khu vực, tiếp nhận các ca bệnh khó cần hội chẩn của khoa bệnh truyền nhiễm và các ca bệnh nặng chuyển tuyến từ toàn thành phố. Khoa đi đầu trong việc triển khai kỹ thuật gan nhân tạo mới trên toàn thành phố; bệnh viện là bệnh viện thuộc “Trung tâm Trình diễn Kỹ thuật Gan nhân tạo và Lọc máu Toàn quốc” (Dự án Gan nhân tạo “mỗi thành phố một trung tâm”), bệnh viện thuộc Dự án Chẩn đoán và điều trị suy gan bằng lọc máu Trung Quốc (Yuanhang), bệnh viện thuộc Dự án Không lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con, bệnh viện thuộc Liên minh Sàng lọc sớm ung thư gan – Kế hoạch Cầu vồng; đồng thời là đơn vị điều trị được chỉ định bệnh viêm gan C của thành phố Đông Quan và đơn vị điều trị được chỉ định bệnh AIDS của thành phố Đông Quan. Khoa có trình độ dẫn đầu toàn thành phố trong chẩn đoán và điều trị viêm gan mạn tính, xơ gan, suy gan, bệnh gan tự miễn, gan nhiễm mỡ, AIDS và các nhiễm trùng cơ hội khác, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương, sốt chưa rõ nguyên nhân...
Khoa là cơ sở chuyên khoa Bệnh truyền nhiễm thuộc Cơ sở Đào tạo chuẩn hóa bác sĩ nội trú cấp quốc gia, có nhiều giáo sư kiêm nhiệm của các trường y, cùng 2 giảng viên hướng dẫn học viên cao học. Khoa đảm nhiệm công tác đào tạo chuẩn hóa bác sĩ nội trú chuyên ngành Bệnh truyền nhiễm và công tác giảng dạy bậc đại học của trường y lâm sàng; đảm nhiệm giảng dạy lý thuyết môn Bệnh truyền nhiễm, cũng như hướng dẫn kiến tập và thực tập cho nhiều chuyên ngành như Y học lâm sàng, Y học dự phòng, Dược học, Pháp y học, Nha khoa... của Đại học Y khoa Quảng Đông.
Công tác nghiên cứu khoa học của khoa đạt nhiều thành quả; trong những năm gần đây, khoa đã được cấp nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh và cấp thành phố, trong gần 5 năm qua đã công bố hơn 30 bài báo chất lượng cao trên các tạp chí nòng cốt trong và ngoài nước, đồng thời tham gia biên soạn nhiều tác phẩm.
Khoa không ngừng cải tiến quy trình khám chữa bệnh ngoại trú hằng ngày, nâng cao trải nghiệm khám chữa bệnh của người bệnh. Khoa lần lượt mở các phòng khám chuyên khoa như phòng khám Bệnh truyền nhiễm, phòng khám Viêm gan, phòng khám Viêm gan C, phòng khám Khỏi viêm gan B trên lâm sàng, phòng khám e ngăn lây truyền mẹ-con, phòng khám chuyên bệnh Xơ gan, phòng khám Gan nhiễm mỡ..., đồng thời triển khai phòng khám dịch vụ một cửa về AIDS và phòng khám dự phòng nhiễm HIV. Thông qua việc xây dựng nền tảng bác sĩ thân thiện với HIV, khoa cung cấp cho người bệnh AIDS các dịch vụ y tế trong suốt vòng đời.
Trong đại dịch COVID-19 giai đoạn 2020–2022, toàn bộ nhân viên y tế của Khoa Bệnh truyền nhiễm được điều động đến Bệnh viện Nhân dân số 9 thành phố Đông Quan, làm lực lượng chủ lực đảm nhiệm công tác chẩn đoán, điều trị và cứu chữa người bệnh nhiễm virus corona chủng mới trên toàn thành phố. Khoa đã nhận được nhiều danh hiệu cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp thành phố; nhiều người được trao danh hiệu “Tiên phong chống dịch” cấp thành phố và của bệnh viện.
Ngoài công việc chuyên môn, khoa còn nhiệt tình với các hoạt động công ích, tận tâm với công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức về bệnh truyền nhiễm. Mỗi năm, khoa tổ chức hàng chục hoạt động khám bệnh miễn phí, tuyên truyền phổ biến khoa học và giáo dục sức khỏe; dấu chân của khoa trải rộng đến các cộng đồng dân cư, khu công nghiệp, trường học... thuộc 32 trấn và phường trên toàn thành phố; khoa nhiều lần được Bệnh viện Nhân dân thành phố trao tặng danh hiệu “Đội ngũ phục vụ tình nguyện xuất sắc”.
**Các chẩn đoán, điều trị và kỹ thuật nổi bật**
**1. Gan nhân tạo**
Suy gan là tình trạng tổn thương gan nghiêm trọng do nhiều yếu tố gây ra, dẫn đến rối loạn nghiêm trọng hoặc mất bù các chức năng tổng hợp, giải độc, chuyển hóa và chuyển đổi sinh học của gan, xuất hiện một nhóm hội chứng lâm sàng, biểu hiện chủ yếu bằng vàng da, rối loạn chức năng đông máu, hội chứng gan thận, bệnh não gan, cổ trướng...
Tại Trung Quốc, virus viêm gan B (HBV) là nguyên nhân thường gặp nhất gây suy gan. Trung Quốc có khoảng 76 triệu người nhiễm HBV mạn tính, trong đó có khoảng 20–30 triệu bệnh nhân viêm gan mạn tính; hơn 8 triệu người sẽ tiến triển thành các bệnh gan giai đoạn cuối như xơ gan, suy gan. Mỗi năm có 500.000–1.000.000 ca suy gan liên quan đến HBV mới phát sinh; nếu không được điều trị hiệu quả, tỷ lệ tử vong có thể lên tới 60%–80%.
Hệ thống hỗ trợ gan nhân tạo (gọi tắt là “gan nhân tạo”) là hệ thống hỗ trợ sự sống ngoài cơ thể, tạm thời thay thế một phần chức năng của gan, và là một trong những phương pháp điều trị chủ yếu đối với suy gan. Trong đó, gan nhân tạo không sinh học (NBAL) đã được chứng minh là có hiệu quả và được ứng dụng rộng rãi trên lâm sàng.
Khoa đã triển khai kỹ thuật gan nhân tạo một cách thuần thục và đạt được những kết quả đáng mừng qua nhiều ứng dụng lâm sàng. Kỹ thuật này đã nâng cao hiệu quả tỷ lệ khỏi bệnh và chuyển biến tốt ở bệnh nhân viêm gan thể nặng, đặc biệt có thể nâng cao rõ rệt tỷ lệ khỏi bệnh và chuyển biến tốt ở bệnh nhân suy gan giai đoạn sớm và trung gian. Từ năm 2023 đến nay, khoa đã thực hiện tổng cộng hơn 300 lượt điều trị bằng gan nhân tạo, cứu chữa thành công nhiều bệnh nhân viêm gan nặng và suy gan cấp trên nền mạn.
**2. Khỏi viêm gan B trên lâm sàng**
Trước đây, viêm gan B thường được cho là một bệnh không thể chữa khỏi và người bệnh phải mang virus viêm gan B suốt đời. Tuy nhiên, cùng với sự tiến bộ của kỹ thuật y học và sự thay đổi trong quan niệm điều trị, khái niệm khỏi viêm gan B trên lâm sàng đã được công nhận rộng rãi. Khỏi viêm gan B trên lâm sàng còn được gọi là khỏi viêm gan B về mặt chức năng, chỉ trạng thái bệnh nhân viêm gan B mạn tính sau điều trị, dù đã ngừng điều trị nhưng vẫn duy trì kháng nguyên bề mặt viêm gan B âm tính, không phát hiện được HBV DNA và các chỉ số chức năng gan bình thường.
Hiện nay, tại Trung Quốc mỗi năm có thêm hơn 400.000 bệnh nhân ung thư gan, hơn 90% số ca ung thư gan là do nhiễm virus viêm gan B gây ra. Trong khoảng 76 triệu người đang mang virus viêm gan B ở Trung Quốc, có 20–30 triệu người cần được điều trị.
Khoa đã mở riêng “Phòng khám Khỏi viêm gan B trên lâm sàng”, là phòng khám chuyên khoa lấy “khỏi viêm gan B mạn tính trên lâm sàng” làm mục tiêu, cung cấp cho người bệnh viêm gan B mô hình khám chữa bệnh mới “quản lý khoa học toàn bộ quá trình bệnh” lấy người bệnh làm trung tâm, xây dựng phương án chẩn đoán và điều trị cá thể hóa, tiến hành dự đoán nguy cơ bệnh, điều trị hỗ trợ... Kể từ khi mở phòng khám đến nay, phòng khám đã tiếp nhận hơn 5.000 lượt người bệnh; hiện có tới vài trăm bệnh nhân đang được điều trị và theo dõi bằng interferon. Trong gần 2 năm qua, trong nhóm bệnh nhân thuộc nhóm đối tượng viêm gan B có lợi thế được điều trị khỏi viêm gan B trên lâm sàng, đã có gần 30% trở lên đạt “khỏi bệnh lâm sàng” nhờ phương pháp điều trị này.
**3. Ngăn chặn lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con**
Lây truyền từ mẹ sang con là một trong những con đường lây truyền quan trọng của virus viêm gan B; tỷ lệ chuyển thành mạn tính ở người nhiễm virus viêm gan B (HBV) trong giai đoạn chu sinh và nhũ nhi là khoảng 90%. Phụ nữ nhiễm virus trong độ tuổi sinh đẻ có thể truyền nhiễm cho thế hệ sau qua đường mẹ-con, đây là nguyên nhân chủ yếu hình thành tình trạng nhiễm HBV tập trung trong gia đình.
Tình trạng lây nhiễm mẹ-con này có thể được ngăn chặn bằng can thiệp y tế! Phụ nữ mang thai nhiễm HBV mạn tính được điều trị kháng virus trong thai kỳ, đồng thời trẻ sơ sinh do họ sinh ra được tiêm vắc-xin viêm gan B kết hợp với globulin miễn dịch viêm gan B để dự phòng miễn dịch cơ bản, có thể làm giảm tỷ lệ lây truyền từ mẹ sang con xuống dưới 0,3%.
Hiện nay, khoa cung cấp dịch vụ tư vấn ngoại trú cho phụ nữ mang thai và sản phụ mắc viêm gan B, bảo vệ phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và các “bà mẹ viêm gan B”. Đối với phụ nữ mang thai và sản phụ có kháng nguyên bề mặt virus viêm gan B dương tính, khoa tiến hành xét nghiệm định lượng HBV DNA và xét nghiệm chức năng gan; căn cứ vào HBV DNA huyết thanh, mức độ chức năng gan và hình thái học gan của thai phụ nhiễm bệnh để đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh gan, đánh giá thời điểm điều trị kháng virus viêm gan B và hướng dẫn điều trị kháng virus.
**4. Điều trị kháng virus viêm gan C**
Viêm gan C là tình trạng viêm gan do virus viêm gan C (HCV) gây ra. Sau khi nhiễm, bệnh có thể dẫn đến viêm gan mạn tính, xơ gan, thậm chí ung thư gan; bệnh chủ yếu lây truyền qua đường máu (truyền máu, dùng chung bơm kim tiêm, thao tác y tế không an toàn...), lây truyền từ mẹ sang con, lây truyền qua đường tình dục và các con đường khác. May mắn là viêm gan C là một bệnh có thể chữa khỏi; thông qua phát hiện sớm và điều trị chuẩn hóa, người bệnh có thể đạt tiên lượng tốt.
Điều trị cho bệnh nhân viêm gan C càng sớm, cố gắng chữa khỏi càng sớm, có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ phát sinh xơ gan và ung thư gan. Bệnh viện Nhân dân thành phố Đông Quan là bệnh viện được chỉ định chẩn đoán và điều trị viêm gan C, đã tích lũy nhiều kinh nghiệm trong điều trị viêm gan C và đã mở riêng phòng khám viêm gan C. Kể từ khi mở riêng phòng khám viêm gan C vào tháng 6 năm 2022, bệnh viện đã hoàn tất điều trị khỏi cho hơn 1.000 bệnh nhân viêm gan C.
**5. Dịch vụ chẩn đoán và điều trị AIDS một cửa**
AIDS là một bệnh truyền nhiễm có thể phòng ngừa và điều trị; các biện pháp dự phòng hợp lý có thể ngăn ngừa lây truyền. Để không ngừng thực hiện tốt công tác phòng chống AIDS và bảo đảm chất lượng cuộc sống của người bệnh AIDS, ngay từ năm 2010 khoa đã mở phòng khám AIDS “Tấm lòng yêu thương”, cung cấp cho người bệnh các dịch vụ y tế như tư vấn AIDS, chẩn đoán, quản lý theo dõi và chăm sóc toàn diện.
Năm 2022, khoa tiếp tục nâng cấp phòng khám “Tấm lòng yêu thương” thành phòng khám “Quan tâm”, tận tâm cung cấp cho người bệnh AIDS các dịch vụ phòng chống AIDS toàn diện, bao gồm dự phòng sau phơi nhiễm do hành vi tình dục nguy cơ cao, dự phòng trước phơi nhiễm và theo dõi điều trị bệnh nhân AIDS. Đồng thời, khoa có thể hướng dẫn người nhiễm HIV và người phối ngẫu chuẩn bị mang thai an toàn, vừa không ảnh hưởng đến sự an toàn của người phối ngẫu âm tính với HIV, vừa có thể sinh con khỏe mạnh. Đối với những bệnh nhân có tình trạng ổn định trong quá trình điều trị kháng virus, sau khi được đánh giá, khoa có thể cung cấp dịch vụ gửi thuốc qua Internet.
Khoa áp dụng các phương tiện xét nghiệm và điều trị tiên tiến hiện nay để tiếp nhận điều trị bệnh nhân AIDS bị nhiễm trùng nặng, bao gồm các nhiễm trùng cơ hội do suy giảm miễn dịch mắc phải, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương, viêm phổi nặng, suy hô hấp...
**6. Chẩn đoán và điều trị chuẩn hóa xơ gan**
Xơ gan là một bệnh gan mạn tính tiến triển; đặc điểm biểu hiện bệnh có sự khác biệt tùy theo từng giai đoạn xơ gan. Giai đoạn sớm (giai đoạn còn bù) thường không có triệu chứng rõ rệt, có thể chỉ biểu hiện bằng mệt mỏi, chán ăn... Giai đoạn muộn (giai đoạn mất bù) sẽ xuất hiện các triệu chứng nghiêm trọng như vàng da, cổ trướng, xuất huyết tiêu hóa, bệnh não gan..., khiến việc điều trị tương đối khó khăn.
Để tiếp tục nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân xơ gan, khoa đã mở phòng khám xơ gan, tiếp nhận bệnh nhân xơ gan do nhiều nguyên nhân khác nhau. Dựa vào thiết bị chẩn đoán và điều trị tiên tiến cùng kinh nghiệm lâm sàng phong phú, khoa cung cấp chẩn đoán chính xác và phương án điều trị cá thể hóa cho bệnh nhân ở các mức độ khác nhau, thực hiện chẩn đoán và điều trị chuẩn hóa trong toàn bộ quá trình bệnh, qua đó nâng cao hiệu quả tính hệ thống trong điều trị và hiệu quả điều trị của nhóm bệnh nhân này.
**7. Điều trị kháng virus viêm gan B ở trẻ em**
Trẻ nhiễm HBV càng nhỏ tuổi thì tỷ lệ chuyển thành mạn tính càng cao. Tỷ lệ này ở giai đoạn chu sinh và nhũ nhi lên tới 90%, còn ở trẻ từ 1–5 tuổi là 20%–30%. Sau khi nhiễm viêm gan B, các triệu chứng lâm sàng ở trẻ thường kín đáo hơn người lớn; phần lớn trẻ không có triệu chứng rõ rệt, thường chỉ phát hiện bất thường qua xét nghiệm chức năng gan. Một số ít trẻ có thể xuất hiện sốt, mệt mỏi, chán ăn, khó chịu vùng bụng..., rất ít trường hợp có thể tiến triển thành xơ gan liên quan đến HBV, suy gan hoặc ung thư gan.
Tỷ lệ khỏi bệnh trên lâm sàng ở trẻ mắc viêm gan B mạn tính được điều trị kháng virus có thể đạt trên 40%. Vì vậy, trẻ mắc viêm gan B cần được tích cực đánh giá điều trị kháng virus, hướng tới đạt khỏi bệnh trên lâm sàng. Phòng khám viêm gan B của khoa điều trị viêm gan B ở trẻ em và có nhiều kinh nghiệm lâm sàng.
**8. Phòng khám sốt**
Phòng khám sốt nằm tại tầng 1 của Trung tâm Y học Bệnh truyền nhiễm, gồm phòng khám sốt dành cho người lớn và phòng khám sốt dành cho trẻ em. Các bác sĩ làm việc tại phòng khám đều là bác sĩ chủ trị có nhiều kinh nghiệm lâm sàng hoặc bác sĩ có chức danh từ mức này trở lên; phòng khám tiếp nhận người bệnh 24 giờ mỗi ngày, bao gồm cả ngày nghỉ và ngày lễ.
Phòng khám sốt có đầy đủ các khu chức năng bên trong, được trang bị các dịch vụ và cơ sở vật chất khám chữa bệnh một cửa như thu phí, lấy máu, điều trị, nhà thuốc và kiểm tra chẩn đoán hình ảnh. Phòng khám có thể thực hiện quy trình khám chữa bệnh toàn diện cho bệnh nhân sốt, từ đăng ký khám đến nhận thuốc và điều trị, qua đó giảm hiệu quả việc người bệnh phải di chuyển giữa các khu vực khác nhau trong bệnh viện, tạo thuận tiện cho người bệnh.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn
Bác sĩ
Hồ sơ bác sĩ: 14
何松美
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Chuyên về các loại viêm gan do virus, phòng ngừa và điều trị xơ gan, dự phòng lây truyền viêm gan B và HIV từ mẹ sang con, chẩn đoán và điều trị gan nhiễm mỡ.
曹焕焕
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Chuyên chẩn đoán và điều trị các loại viêm gan do virus, bệnh gan tự miễn, tìm nguyên nhân bất thường chức năng gan, xơ gan, suy gan, gan nhiễm mỡ, lao, AIDS và các bệnh nhiễm trùng khác, sốt chưa rõ nguyên nhân và nhiễm trùng nặng.
杨年欢
Bác sĩ ở ngạch chuyên môn trung cấp (chức danh trong hệ thống Trung Quốc)