Khoa Tiêu hóa
1.Tổng quan Khoa Nội tiêu hóa Bệnh viện trực thuộc số 10 của Đại học Y khoa Nam Phương (Bệnh viện Nhân dân thành phố Đông Quản) đã thành lập Khoa Nội tiêu hóa độc lập vào tháng 7 năm 2005. Trải qua hơn 20 năm nỗ lực không ngừng và chuyên sâu, khoa đã hình thành những đặc điểm chuyên khoa nổi bật trong lĩnh vực chẩn đoán và điều trị các bệnh hệ tiêu hóa, trình độ chuyên môn dẫn đầu trong thành phố và cũng ở mức tiên tiến trong tỉnh. Năm 2017, khoa đã thuận lợi vượt qua kiểm tra chứng nhận GCP của Tổng cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Quốc gia, hiện có đủ điều kiện tiến hành thử nghiệm lâm sàng thuốc và thiết bị y tế, cùng năm được đánh giá là chuyên khoa lâm sàng trọng điểm của thành phố Đông Quản; năm 2019 được đánh giá là Đơn vị Văn minh Thanh niên thành phố Đông Quản, cùng năm được đánh giá là Cơ sở Điều trị Giãn tĩnh mạch Thực quản-Dạ dày Trung Quốc; năm 2024 được trao các danh hiệu như Đội ngũ chuyên khoa nhân tài dẫn đầu y học Chen Guiquan, Trung tâm hợp tác của Dự án Quản lý Polyp Đại trực tràng Quốc gia, đơn vị của Liên minh Bệnh viêm ruột tỉnh Quảng Đông. Khoa đã được xây dựng thành một khoa ưu tú tích hợp lâm sàng, nghiên cứu khoa học, giảng dạy và dịch vụ điều dưỡng chất lượng cao. Đặc biệt trong những năm gần đây, khoa đã đạt được sự phát triển vượt bậc trong lĩnh vực chẩn đoán và điều trị nội soi, có ảnh hưởng nhất định trong tỉnh, thậm chí trên toàn quốc. Với tư cách là đơn vị chủ trì Phân hội Nội soi tiêu hóa thuộc Hội Y học thành phố Đông Quản, đơn vị chủ trì Ủy ban Chuyên môn Điều dưỡng tiêu hóa thuộc Hội Điều dưỡng thành phố Đông Quản, đơn vị trưởng Nhóm Điều dưỡng Nội soi tiêu hóa thuộc Hội Điều dưỡng thành phố Đông Quản, khoa giữ vị trí dẫn đầu khu vực trong lĩnh vực chẩn đoán và điều trị các bệnh hệ tiêu hóa cũng như nội soi tiêu hóa. Khoa là hậu thuẫn vững chắc của các bệnh viện trấn và phường, tích cực xây dựng kênh liên hệ với các bệnh viện trấn, phường và các trung tâm y tế cộng đồng, hình thành cục diện tốt đẹp về chẩn đoán và điều trị hai chiều, cùng có lợi và cùng thắng. Thông qua chuyển giao kỹ thuật, hội chẩn từ xa và các phương thức khác, khoa thúc đẩy sự phát triển của tuyến cơ sở; chất lượng dịch vụ khám ngoại trú và chẩn đoán, điều trị nội soi không ngừng được nâng cao, ngày càng nhiều người dân được hưởng lợi. (1)Xây dựng đội ngũ nhân tài:Sở hữu đội ngũ y bác sĩ có chuyên môn đặc thù và giàu kinh nghiệm, hiện khoa có tổng cộng 47 bác sĩ, trong đó có 25 người có chức danh chuyên môn cao cấp, 18 người có chức danh chuyên môn trung cấp, 3 người có học vị tiến sĩ và 22 người có học vị thạc sĩ. Khoa có nhân tài dẫn đầu y học, nhân tài trẻ xuất sắc và giảng viên hướng dẫn học viên cao học, hình thành đội ngũ kế thừa kết hợp các thế hệ lớn tuổi, trung niên và trẻ. Dựa vào ưu thế về nhân tài và kỹ thuật cùng với trang thiết bị tiên tiến, Khoa Nội tiêu hóa đã đạt được những đột phá theo giai đoạn và sự phát triển mang tính bước ngoặt trong những năm gần đây. (2)Năng lực chuyên môn:Hệ thống kỹ thuật chẩn đoán và điều trị ít xâm lấn bằng nội soi tiêu hóa ngày càng hoàn thiện, hiện đã thường quy triển khai điều trị nội soi các loại khối u sớm đường tiêu hóa, đặt các loại stent đường tiêu hóa, điều trị nội soi các loại xuất huyết đường tiêu hóa, ghép hệ vi sinh vật từ phân, EMR、ESD、ERCP、EUS、STER、ESE、EFTR、ERAT、POEM、G-POEM và các phẫu thuật nội soi tiêu hóa khác, hình thành kỹ thuật lấy “siêu ít xâm lấn” làm đặc trưng, số ca và tỷ lệ thành công đứng hàng đầu trong thành phố. Số lượt nội soi dạ dày và đại tràng khoảng 70.000 lượt/năm, ERCP khoảng 500 ca/năm, EUS khoảng 850 ca/năm, đều đứng đầu khu vực Đông Quản. Cơ sở Hồng Lâu và cơ sở Phổ Tế của bệnh viện đều có phòng khám chuyên khoa Nội tiêu hóa chuyên gia, trung tâm nội soi và khu điều trị nội trú, đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Cơ sở Hồng Lâu có 56 giường bệnh mở, cơ sở Phổ Tế có 33 giường bệnh mở. Trải qua hơn 20 năm phát triển, trình độ của nhiều kỹ thuật chẩn đoán và điều trị đứng hàng đầu trong tỉnh, bao gồm xuất huyết tiêu hóa nặng, xơ gan, cổ trướng khó điều trị, bệnh viêm ruột(IBD)như viêm loét đại tràng và bệnh Crohn, viêm tụy cấp nặng, suy gan, vàng da nặng, viêm đường mật mủ do tắc nghẽn, loét dạ dày-tá tràng khó điều trị, tiêu chảy mạn tính, sàng lọc u sớm đường tiêu hóa, đặc biệt là nhiều kỹ thuật chẩn đoán nội soi tiên tiến và kỹ thuật điều trị ít xâm lấn qua nội soi như sàng lọc bằng nội soi nhuộm màu phóng đại, xử lý ít xâm lấn ung thư sớm qua nội soi, cũng như trình độ kỹ thuật phẫu thuật can thiệp đều ở mức tiên tiến trong tỉnh. (3)Xây dựng các chuyên khoa phụ:Tích cực thúc đẩy xây dựng các chuyên khoa phụ, xoay quanh mục tiêu “bệnh chuyên biệt điều trị chuyên biệt, kỹ thuật dẫn dắt, nghiên cứu khoa học thúc đẩy”, xây dựng hệ thống ngành học định hướng nghiên cứu lâm sàng, nâng cao trình độ chẩn đoán và điều trị cùng ảnh hưởng của ngành học. Hiện khoa có 6 chuyên khoa phụ/nhóm chuyên môn gồm bệnh viêm ruột(IBD), sàng lọc ung thư sớm đường tiêu hóa, xuất huyết đường tiêu hóa, chẩn đoán và điều trị bằng siêu âm nội soi, chuyên khoa bệnh gan, chẩn đoán và điều trị gan mật tụy. Mỗi nhóm chuyên môn do cán bộ nòng cốt y tế chuyên khoa có chức danh chuyên môn cao cấp hoặc phó cao cấp đảm nhiệm trưởng nhóm, mỗi chuyên khoa phụ được trang bị đội ngũ nhân tài chuyên môn, thực hiện điều trị chuyên biệt theo từng bệnh, nâng cao rõ rệt trình độ kỹ thuật chẩn đoán và điều trị của khoa, đạt được quản lý tinh gọn và phát triển chuyên khoa hóa. (4)Thành quả nghiên cứu khoa học:Trong 5 năm gần đây, khoa tích cực triển khai nhiều đề tài nghiên cứu cấp tỉnh và thành phố, công bố nhiều bài báo trên các tạp chí y học các cấp. Tổng cộng đã triển khai 8 đề tài nghiên cứu khoa học được phê duyệt từ cấp thành phố trở lên, trong đó có 3 đề tài trọng điểm cấp thành phố, 1 đề tài cán bộ đặc phái khoa học và công nghệ cấp thành phố, 3 đề tài chung cấp thành phố; triển khai 1 đề tài cấp tỉnh thuộc Quỹ Liên hợp Quảng Đông-Đông Quản(nuôi dưỡng khu vực). Tổng cộng đã công bố hơn 38 bài báo y học, 15 bài báo SCI, 6 bài báo thuộc tạp chí cốt lõi tiếng Trung, 14 bài báo thuộc tạp chí cốt lõi khoa học và công nghệ, 9 bằng sáng chế phát minh, tham gia biên soạn 5 sách chuyên khảo và hướng dẫn, đã triển khai 7 kỹ thuật mới. Khoa tham gia nhiều nghiên cứu lâm sàng đa trung tâm trong nước, GCP đã triển khai tổng cộng hơn 10 đề tài, kinh phí dự án hằng năm vượt quá một triệu. (5)Công tác giảng dạy:Khoa Nội tiêu hóa là một trong những cơ sở đào tạo chuẩn hóa bác sĩ nội trú đợt đầu tiên trên toàn quốc, trong 3 năm gần đây đã hướng dẫn hơn 150 bác sĩ nội trú, đảm nhiệm nhiệm vụ giảng dạy thực tập lâm sàng cho nhiều trường y trong cả nước, bao gồm Đại học Y khoa Nam Phương, Đại học Trung Sơn, Đại học Y khoa Quảng Đông, Đại học Y khoa Quảng Châu. Công tác giảng dạy nhiều năm liền ở trình độ dẫn đầu trong bệnh viện, được đánh giá là khoa tiên tiến về giảng dạy lâm sàng và phòng giảng dạy-nghiên cứu xuất sắc. (6)Đội ngũ điều dưỡng:Đội ngũ điều dưỡng Khoa Nội tiêu hóa, với tư cách là đơn vị chủ trì Ủy ban Chuyên môn Điều dưỡng tiêu hóa thuộc Hội Điều dưỡng thành phố Đông Quản, từ lâu đảm nhiệm công tác điều dưỡng các bệnh thường gặp, bệnh có tỷ lệ mắc cao và bệnh khó chẩn đoán, điều trị của hệ tiêu hóa. Đội ngũ tích cực phối hợp với bộ phận y tế triển khai nhiều kỹ thuật mới và dịch vụ mới, tích lũy kinh nghiệm điều dưỡng lâm sàng phong phú. Đội ngũ điều dưỡng luôn giữ vững quan niệm điều dưỡng “lấy người bệnh làm trung tâm”, mang theo tình yêu thương, sự kiên nhẫn, cẩn thận và tinh thần trách nhiệm, chăm sóc chu đáo từng người bệnh, cung cấp cho người bệnh dịch vụ điều dưỡng toàn diện, chuyên nghiệp và chất lượng cao. 2.Kỹ thuật nội soi đặc trưng (1)Nội soi dạ dày-đại tràng không đau Nội soi dạ dày-đại tràng không đau giúp người bệnh hoàn thành toàn bộ quá trình kiểm tra và điều trị trong trạng thái không đau, có những ưu điểm nổi bật như độ thoải mái cao, thời gian ngắn và tỷ lệ bỏ sót chẩn đoán thấp. Khoa đã đưa vào sử dụng thiết bị nội soi tiêu hóa tiên tiến trong ngành, thiết bị này không chỉ mềm và dễ điều khiển hơn, ống cũng mảnh hơn, đồng thời được trang bị ống kính HD độ phân giải cao và hệ thống tạo ảnh dải hẹp nội soi(NBI), có thể tiến hành kiểm tra nhuộm màu phóng đại đối với các tổn thương nghi ngờ, khi phát hiện polyp có thể kịp thời sinh thiết bằng kìm hoặc cắt bỏ, từ đó thực hiện chẩn đoán và điều trị chính xác hơn. Hiện nay, mỗi năm khoa thực hiện khoảng 70.000 lượt nội soi dạ dày-đại tràng, trong đó 80% là nội soi dạ dày-đại tràng không đau, bảo vệ sức khỏe dạ dày và đường ruột cho người dân Đông Quản. (2)Kiểm tra siêu âm nội soi(EUS)Kiểm tra siêu âm nội soi(EUS)là kỹ thuật kiểm tra đường tiêu hóa kết hợp nội soi và siêu âm. Trong khi quan sát trực tiếp hình thái trong lòng ống bằng nội soi, kỹ thuật này còn có thể thực hiện quét siêu âm theo thời gian thực, qua đó thu được đặc điểm mô học của từng lớp thành ống và hình ảnh siêu âm của các cơ quan lân cận xung quanh, cung cấp cho bác sĩ nội soi tiêu hóa “con mắt thứ ba”. Sau khi kiểm tra và chẩn đoán chính xác, bác sĩ có thể sử dụng nhiều kỹ thuật điều trị ít xâm lấn nêu trên để điều trị các tổn thương niêm mạc và dưới niêm mạc, đồng thời có thể thực hiện các thao tác như chọc hút dẫn lưu, sinh thiết hoặc đặt stent dưới hướng dẫn của siêu âm nội soi. Khoa bắt đầu triển khai kỹ thuật này vào năm 2017, hiện hoàn thành hơn 600 ca mỗi năm, kỹ thuật đã đạt độ thuần thục. (3)Bóc tách dưới niêm mạc qua nội soi(ESD)Bóc tách dưới niêm mạc qua nội soi(ESD)là một trong những kỹ thuật điều trị ít xâm lấn mang tính cách mạng nhất trong lĩnh vực nội soi trong gần 20 năm qua, nhấn mạnh việc bóc tách tổn thương từng bước dưới nội soi, tránh hiệu quả các vấn đề của phẫu thuật mở bụng truyền thống như tổn thương lớn, phá hủy cấu trúc giải phẫu bình thường và tỷ lệ biến chứng cao. So với các kỹ thuật cùng loại khác, kỹ thuật ESD có ưu điểm là phạm vi áp dụng rộng hơn, tỷ lệ cắt trọn khối một lần đối với các tổn thương phức tạp trên diện rộng cao(đạt trên 96%). Kết hợp với mô bệnh học, kỹ thuật ESD còn có thể cung cấp phân giai đoạn mô học chính xác của khối u, xác định rõ độ sâu xâm lấn, tình trạng biệt hóa của khối u, có lợi cho bác sĩ đánh giá chính xác phạm vi và độ sâu của khối u. Kỹ thuật ESD yêu cầu cao, nhưng tỷ lệ thành công cao, cắt bỏ triệt để và tỷ lệ tái phát khối u thấp. Khoa đã triển khai kỹ thuật này hơn 10 năm, mỗi năm thực hiện khoảng 450 ca, giải quyết vấn đề chẩn đoán và điều trị nhiều loại ung thư sớm đường tiêu hóa cho đông đảo người bệnh, tiết kiệm đáng kể nguồn lực y tế. (4)Bóc tách u dưới niêm mạc qua nội soi(ESE)、cắt toàn bộ thành qua nội soi(EFR)Phần lớn u dưới niêm mạc là tổn thương lành tính, nhưng sẽ dần lớn lên và một số có nguy cơ ác tính hóa, như u mô đệm đường tiêu hóa, u thần kinh nội tiết(carcinoid)v.v. Cùng với sự phát triển của kỹ thuật điều trị ít xâm lấn bằng nội soi tiêu hóa, hiện nay phần lớn u dưới niêm mạc đường tiêu hóa có thể được cắt bỏ qua nội soi. Kết hợp với siêu âm nội soi có thể xác định chính xác lớp phát triển, kích thước và loại bệnh lý đại thể của khối u, từ đó lựa chọn phẫu thuật bóc tách u dưới niêm mạc qua nội soi(ESE)hoặc cắt toàn bộ thành qua nội soi(EFR)thích hợp để điều trị. ESE thích hợp với u dưới niêm mạc lành tính hoặc ác tính mức độ thấp, chủ yếu phát triển trong lòng đường tiêu hóa; còn đối với u dưới niêm mạc có thể tích lớn hơn và phát triển ra ngoài, có thể dùng EFR để cắt bỏ triệt để. Nhờ kỹ thuật khâu nội soi điêu luyện, khó khăn về thủng dạ dày-ruột trong khi phẫu thuật trước đây hiện đã được giải quyết an toàn. Khoa đã triển khai các kỹ thuật nêu trên được 6 năm, hiện mỗi năm thực hiện hơn 40 ca điều trị loại này, kỹ thuật đã trưởng thành và đạt hiệu quả điều trị ít xâm lấn hơn. (5)Nội soi mật tụy ngược dòng(ERCP)Nội soi mật tụy ngược dòng(ERCP)hiện là một trong những phương pháp chủ yếu điều trị ít xâm lấn các bệnh đường mật và tụy. Kỹ thuật này đưa ống nội soi qua miệng vào phần xuống của tá tràng, đưa dụng cụ chuyên dụng qua nhú tá tràng vào trong ống mật hoặc ống tụy, sau khi tiêm thuốc cản quang thì chụp X-quang để hiển thị cấu trúc đường mật và ống tụy. Do ERCP không cần mổ, tổn thương nhỏ, thời gian phẫu thuật ngắn, biến chứng ít hơn phẫu thuật ngoại khoa, thời gian nằm viện cũng được rút ngắn đáng kể. Đặt stent đường mật sau ERCP để điều trị hẹp ác tính đường mật do u đường mật hoặc u tụy gây ra cho hiệu quả tốt. Trên cơ sở đó, còn có thể thực hiện hàng loạt thao tác như cắt nhú tá tràng, nong bóng, lấy sỏi, đặt stent ống mật chủ hoặc ống tụy, đặt ống dẫn lưu mật qua mũi. Khoa đã triển khai kỹ thuật này được 16 năm, hiện mỗi năm thực hiện hơn 400 ca, ở trình độ dẫn đầu trong tỉnh. Việc ứng dụng kỹ thuật này giúp một phần các phẫu thuật đường mật và tụy trước đây có mức độ tổn thương lớn được thay thế bằng phương pháp điều trị ít xâm lấn với tổn thương nhỏ, có những ưu điểm nổi bật như thời gian phẫu thuật ngắn, hồi phục nhanh và ít biến chứng. (7)Cắt u qua đường hầm dưới niêm mạc bằng nội soi(STER)Cắt u qua đường hầm dưới niêm mạc bằng nội soi(STER)là kỹ thuật điều trị nội soi mới nổi để điều trị u dưới niêm mạc thực quản và dạ dày. Kỹ thuật này phẫu thuật qua các hốc tự nhiên của cơ thể, sử dụng dụng cụ cắt bỏ ít xâm lấn mới nhất và đường đi kỹ thuật; sau khi tạo cửa sổ ở lớp bề mặt thực quản(niêm mạc), tạo một “đường hầm” dưới niêm mạc dọc theo lớp giữa của thực quản(lớp dưới niêm mạc), cắt bỏ tổn thương dưới niêm mạc dưới tầm nhìn trực tiếp của nội soi, sau đó dùng clip kim loại khâu đóng đường rạch lớp niêm mạc. Kỹ thuật này vừa có thể cắt bỏ hoàn toàn khối u, vừa có thể duy trì tính toàn vẹn của đường tiêu hóa, có các ưu điểm điều trị như an toàn, ít xâm lấn, hồi phục nhanh và ít biến chứng. Khoa đã triển khai kỹ thuật này được 6 năm, hiện mỗi năm thực hiện hơn 30 ca. (8)Cắt cơ thắt thực quản qua đường miệng bằng nội soi(POEM)Cắt cơ thắt thực quản qua đường miệng bằng nội soi(POEM)chủ yếu nhằm điều trị chứng co thắt tâm vị không giãn kháng trị. Người bệnh biểu hiện co thắt cơ thắt đoạn dưới thực quản, thức ăn không thể thuận lợi đi vào dạ dày, dẫn đến khó ăn, nôn ói thường xuyên và sụt cân liên tục. Hiện nay, cắt cơ thắt thực quản qua đường miệng bằng nội soi(POEM)đã trở thành lựa chọn đầu tay để điều trị chứng co thắt tâm vị không giãn. Kỹ thuật này không cần mở ngực hoặc mở bụng, toàn bộ quá trình phẫu thuật đều được thực hiện qua nội soi dạ dày trong trạng thái không đau, có ưu điểm như thời gian phẫu thuật ngắn, tổn thương nhỏ và hồi phục nhanh; thông thường người bệnh có thể ăn vào ngày thứ hai sau phẫu thuật. Khoa đã triển khai kỹ thuật này được 7 năm, mỗi năm thực hiện hơn 20 ca, tất cả các ca đều thành công, trình độ kỹ thuật đứng hàng đầu trong tỉnh. (9)Điều trị viêm ruột thừa ngược dòng qua nội soi(ERAT)Điều trị viêm ruột thừa ngược dòng qua nội soi(ERAT)là kỹ thuật mới điều trị viêm ruột thừa được phát minh trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của kỹ thuật chẩn đoán và điều trị ít xâm lấn bằng nội soi. Kỹ thuật này thông qua nội soi, sử dụng kỹ thuật chụp cản quang ngược dòng, đặt stent vào lòng ruột thừa, dẫn lưu đầy đủ mủ trong lòng ruột thừa, giảm áp lực trong lòng ruột thừa để đạt mục đích điều trị viêm ruột thừa cấp. Kỹ thuật ERAT không chỉ có ưu điểm là tổn thương nhỏ, không để lại sẹo, hiệu quả nhanh, hồi phục nhanh. (10)Tiêm xơ giãn tĩnh mạch thực quản-dạ dày qua nội soi(EVS)Tiêm xơ giãn tĩnh mạch thực quản-dạ dày qua nội soi(EVS)là phương pháp xác định và lựa chọn chính xác các mạch máu nguồn và đường ra của giãn tĩnh mạch thực quản-dạ dày, tiến hành bít tắc chính xác, nhằm đạt mục đích cầm máu kịp thời và phòng ngừa chảy máu tái phát. Kỹ thuật này có thể loại bỏ giãn tĩnh mạch thực quản-dạ dày trong một lần, từ đó giúp người bệnh xơ gan có cuộc sống lâu dài an toàn và khỏe mạnh. (11)Thắt giãn tĩnh mạch thực quản vỡ chảy máu(EVL)Thắt giãn tĩnh mạch thực quản vỡ chảy máu(EVL)là phương pháp điều trị cầm máu và phòng ngừa chảy máu do giãn tĩnh mạch thực quản vỡ an toàn, hiệu quả; thông qua nội soi dạ dày dùng vòng cao su thắt các tĩnh mạch giãn của thực quản, kịp thời điều trị, cầm máu và cứu sống người bệnh. (12)Kiểm tra nội soi ruột non bóng đôi Kiểm tra nội soi ruột non bóng đôi là kỹ thuật kiểm tra ruột non tương đối tiên tiến hiện nay. Thông qua thao tác bơm và xả khí của hai bóng để đưa ống nội soi tiến vào, có thể đến được vùng sâu của ruột non, phá vỡ vùng mù trong chẩn đoán và điều trị bệnh ruột non, thực hiện chẩn đoán và điều trị đồng thời các bệnh ruột non. Thao tác này mất nhiều thời gian, có nguy cơ chảy máu, thủng và các nguy cơ khác, yêu cầu rất cao về kỹ thuật của bác sĩ thực hiện. Là Khoa Nội tiêu hóa của một bệnh viện công lập hạng III-A có quy mô dẫn đầu ở Đông Quản, khoa hiện đã thường quy triển khai kỹ thuật nội soi ruột non bóng đôi. Kỹ thuật này nhìn chung đã trưởng thành và đáng tin cậy, tỷ lệ biến chứng tổng thể dưới 1%, tỷ lệ thành công khi kiểm tra khá cao, có thể thăm dò trực quan niêm mạc bên trong ruột non, xác định rõ tổn thương, giải quyết hiệu quả các vấn đề khó khăn trong chẩn đoán và điều trị các loại bệnh ruột non. Kể từ khi khoa triển khai kỹ thuật này vào năm 2023, đã thuận lợi hoàn thành 18 ca nội soi ruột non bóng đôi, các ca bệnh bao gồm xuất huyết ruột non không rõ nguyên nhân, nghi ngờ bệnh Crohn, polyp ruột non, u ruột non, tắc ruột non không rõ nguyên nhân và các trường hợp khác. Tất cả các ca đều không xảy ra biến chứng nghiêm trọng. Kết quả theo dõi sau phẫu thuật tốt, có tính an toàn và giá trị cao trong chẩn đoán, điều trị lâm sàng. Kể từ khi kỹ thuật được phổ biến, khoa đã tạo được ảnh hưởng tốt trong khu vực Đông Quản, thu hút bệnh nhân từ nơi khác đến khám và kiểm tra.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn
Bác sĩ
Hồ sơ bác sĩ: 10
廖真防
Bác sĩ ở ngạch phó chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
张志坚
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Chuyên chẩn đoán và điều trị các bệnh thực quản, dạ dày và ruột, đặc biệt chẩn đoán và điều trị bệnh tiêu hóa bằng nội soi.
柳娟
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
程树红
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)