Sản khoa
1. Tổng quan chuyên ngành
Khoa Sản của bệnh viện chúng tôi là trung tâm tiếp nhận các ca bệnh sản khoa nặng và khó của bán đảo Giao Đông. Hằng năm, khoa đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ chuyển tuyến và hội chẩn từ các khu vực Giao Đông trải dài từ Lâm Nghi, Nhật Chiếu ở phía tây đến Yên Đài, Uy Hải ở phía đông, đồng thời mỗi năm tiếp nhận nhiều ca hội chẩn và sản phụ nặng được chuyển tuyến từ các khu vực lân cận. Hiện nay, Khoa Sản của bệnh viện chúng tôi có tổng cộng 109 giường tại cả ba cơ sở; số lượt khám ngoại trú hằng năm đạt hơn 60.000 lượt và số ca sinh vượt quá 5.000 ca. Ngay từ đầu những năm 1970, Khoa Sản đã tách riêng nhóm thai kỳ nguy cơ cao và nhóm sản khoa thường quy, từ đó hình thành khái niệm thai kỳ nguy cơ cao. Đến những năm 1990, khoa thành lập nhóm đái tháo đường thai kỳ và nhóm bệnh tăng huyết áp thai kỳ. Đến năm 2000, các nhóm chuyên môn về đái tháo đường thai kỳ, bệnh tăng huyết áp thai kỳ và cấp cứu sản khoa đã hình thành quy mô nhất định, tạo nên một đội ngũ kỹ thuật chuyên môn có chất lượng chuyên môn và trình độ kỹ thuật cao, đứng đầu là bác sĩ chuyên gia cấp cao Ye Yuanhua, đồng thời là người dẫn đầu học thuật. Khoa đã đạt trình độ chẩn đoán và điều trị rất cao, giữ vị trí dẫn đầu trong nước. Ở nhóm bệnh tăng huyết áp thai kỳ, việc sử dụng liều magie sulfat tương đối thấp để phòng ngừa co giật ở bệnh nhân tiền sản giật đã đạt hiệu quả tốt. Sử dụng siêu âm và các kỹ thuật xét nghiệm để đánh giá tình trạng của mẹ và thai, lựa chọn thời điểm thích hợp để chấm dứt thai kỳ, nhằm bảo đảm mức độ an toàn tối đa và tiên lượng tốt cho cả mẹ và con. Từ năm 1997, bệnh viện chúng tôi là đơn vị đầu tiên trong tỉnh triển khai công tác sàng lọc bệnh đái tháo đường thai kỳ; sau đó công tác này được phổ biến tại thành phố Thanh Đảo và các khu vực lân cận, trở thành hạng mục kiểm tra thường quy cho tất cả thai phụ. Đối với thai phụ có yếu tố nguy cơ cao, bệnh viện thực hiện sàng lọc và quản lý trước khi mang thai cũng như trong giai đoạn sớm của thai kỳ, chẩn đoán sớm và kiểm soát sớm đường huyết, qua đó giảm biến chứng của mẹ và thai trong thai kỳ, khi sinh và sau sinh. Ở nhóm bệnh nhân nặng, chẳng hạn bệnh gan nhiễm mỡ thai kỳ, viêm tụy cấp kèm thai kỳ và các bệnh nội khoa, ngoại khoa phối hợp nghiêm trọng khác như bệnh hệ tạo máu kèm thai kỳ —thiếu máu bất sản, giảm tiểu cầu, bệnh bạch cầu, v.v.—, cũng như bệnh nhân xuất huyết sau sinh nặng và DIC, khoa đã hình thành một quy trình cấp cứu điều trị lấy điều trị hỗ trợ sự sống làm nền tảng, sử dụng các kỹ thuật như kỹ thuật thay thế thận liên tục và hệ thống lọc máu bằng gan nhân tạo để điều trị hỗ trợ triệu chứng, đồng thời tích cực điều trị bệnh nguyên phát. Nhờ đó, hiệu quả cấp cứu được nâng cao rõ rệt và tỷ lệ tử vong mẹ giảm mạnh. Đối với bệnh nhân nhau tiền đạo nguy hiểm, năm 2015 Khoa Sản phối hợp với Khoa Y học can thiệp đã triển khai kỹ thuật bít tắc động mạch chủ bụng bằng bóng trong phẫu thuật. Phương pháp này sử dụng việc đặt lưu ống thông bóng động mạch chủ bụng qua chọc động mạch đùi để tạm thời chặn động mạch chủ bụng trong phẫu thuật, kiểm soát lượng máu mất trong mổ do nhau tiền đạo nguy hiểm, nâng cao độ an toàn của phẫu thuật nhau tiền đạo nguy hiểm, giảm các biến chứng liên quan đến mất máu nhiều trong phẫu thuật, cải thiện tiên lượng người bệnh, nâng cao năng lực xử trí loại bệnh nhân phức tạp, nặng này của bệnh viện chúng tôi và nâng cao chất lượng sản khoa. Trong nhiều năm liên tiếp, Khoa Sản đã tổ chức thành công các lớp đào tạo cấp quốc gia và cấp tỉnh về chẩn đoán, điều trị sớm tắc mạch ối, bệnh tăng huyết áp thai kỳ, đái tháo đường thai kỳ và cấp cứu các tình trạng nặng, nguy kịch trong sản khoa.
2. Cơ cấu nhân lực
Khoa Sản có thế mạnh nhân lực dồi dào, đã phát triển thành một tập thể y tế, giảng dạy và nghiên cứu trình độ cao, đầy đủ chuyên ngành, lấy các giảng viên hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ làm đầu tàu và lấy đông đảo cán bộ kỹ thuật nòng cốt trẻ, trung niên có trình độ cao làm lực lượng chủ chốt. Hiện nay chuyên ngành có 45 bác sĩ chuyên trách, cơ cấu nhân lực hợp lý; trong đó 10 người có bằng tiến sĩ, 33 người có bằng thạc sĩ, tỷ lệ người có bằng thạc sĩ trở lên đạt 95.5%, có 3 người giữ chức danh chuyên môn cao cấp nhất và 9 người giữ chức danh chuyên môn phó cao cấp. Có 1 người hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ, 5 người hướng dẫn học viên cao học và 1 ủy viên ban biên tập Tạp chí Y học Chu sinh Trung Quốc.
3. Đặc điểm chuyên môn
(1) Sản khoa thường quy
Khoa Sản của bệnh viện chúng tôi đã thành lập nhóm sản khoa thường quy từ những năm 1970, hiện có 68 giường. Khoa có đội ngũ nhân viên kỹ thuật chuyên môn độc lập. Khoa có nhiều kinh nghiệm lâm sàng trong theo dõi tình trạng mẹ và thai trong quá trình sinh, quan sát và xử trí chuyển dạ, chẩn đoán và xử trí các biến chứng thường gặp trong khi sinh và sau sinh như đờ tử cung, dính bánh nhau, nhau cài răng lược và tắc mạch ối; xử trí băng huyết sau sinh và rách đường sinh dục mềm phức tạp; phân tích khí máu sơ sinh; xử trí trẻ sơ sinh; hồi sức trẻ sơ sinh ngạt và xử trí sau hồi sức; xử trí trong thai kỳ và khi sinh, cũng như phẫu thuật, đối với thai kỳ kèm u xơ tử cung hoặc u buồng trứng. Khoa đã triển khai phòng khám dinh dưỡng thai kỳ để tư vấn và hướng dẫn dinh dưỡng trong thai kỳ. Đặc biệt, kỹ thuật đỡ đẻ bằng forceps và kỹ thuật xử trí thai kỳ kèm u phụ khoa, như u xơ tử cung, u buồng trứng và u cổ tử cung, đều nằm trong nhóm dẫn đầu của tỉnh.
(2) Y học thai nhi và chẩn đoán trước sinh
Từ tháng 4 năm 2011, dưới sự ủng hộ mạnh mẽ của lãnh đạo bệnh viện, Khoa Sản bắt đầu thực hiện chọc ối để chẩn đoán trước sinh, nuôi cấy tế bào nước ối và phân tích nhiễm sắc thể đồ. Đến nay đã hoàn thành hơn 300 ca, tỷ lệ nuôi cấy tế bào nước ối cao, đồng thời đã triển khai kỹ thuật phân tích nhiễm sắc thể đồ nhanh (FISH). Năm 2011, khoa triển khai nuôi cấy nhung mao màng đệm và phân tích nhiễm sắc thể đồ. Từ tháng 10 năm 2011, khoa bắt đầu thực hiện sàng lọc trước sinh bằng máu ngoại vi trong giai đoạn giữa thai kỳ, hiện đã sàng lọc hơn 2.000 ca. Mỗi năm khoa thực hiện hàng chục nghìn ca siêu âm sàng lọc giữa thai kỳ. Từ tháng 12 năm 2011, khoa triển khai siêu âm chẩn đoán hệ thống trước sinh; kể từ khi bắt đầu công việc đến nay đã hoàn thành hơn 1.800 ca siêu âm chẩn đoán trước sinh. Chẩn đoán siêu âm trước sinh các dị tật bẩm sinh khác nhau của thai nhi đã đạt trình độ tiên tiến trong nước; mỗi năm siêu âm xác định khoảng hơn 1.000 ca dị tật thai nhi, qua đó ngăn ngừa hiệu quả việc sinh ra trẻ bị dị tật nặng. Đồng thời với việc triển khai các công việc trên, bệnh viện chúng tôi cũng đi đầu trong chẩn đoán di truyền phân tử, đã mua thiết bị xét nghiệm gen điếc di truyền và triển khai chương trình xét nghiệm gen điếc di truyền. Năm 2011, khoa triển khai xét nghiệm DNA thai nhi không xâm lấn trước sinh từ máu ngoại vi của thai phụ. Trên cơ sở đó, tháng 3 năm 2012, dưới sự ủng hộ mạnh mẽ của lãnh đạo bệnh viện, Trung tâm Chẩn đoán trước sinh của Bệnh viện trực thuộc Học viện Y thuộc Đại học Thanh Đảo được thành lập và được cấp các tư cách, chứng nhận hoặc giấy phép liên quan ở cấp quốc gia. Trung tâm bao gồm các khoa, phòng như tư vấn di truyền, chọc dò lâm sàng sản khoa, chẩn đoán hình ảnh (siêu âm), phòng xét nghiệm sinh hóa và miễn dịch, phòng xét nghiệm di truyền tế bào. Kể từ khi chính thức thành lập, hiện nay trung tâm đã trở thành trung tâm chẩn đoán các bệnh bẩm sinh của thai nhi và một số bệnh di truyền nhiễm sắc thể tại Thanh Đảo và các khu vực lân cận. Công tác của trung tâm giữ vị trí dẫn đầu trong tỉnh và đã đóng góp tích cực vào việc nâng cao chất lượng dân số mới sinh của thành phố chúng ta.
Đồng thời với việc triển khai công tác chẩn đoán trước sinh, Khoa Sản của bệnh viện chúng tôi cũng đã thực hiện nhiều công việc về chẩn đoán và điều trị thai đôi phức tạp, thai chậm tăng trưởng và tan máu trong tử cung, giữ vị trí dẫn đầu trong tỉnh. Đối với thai đôi phức tạp, khoa có thể báo cáo siêu âm về tính chất màng đệm trong giai đoạn đầu thai kỳ, phát hiện bằng siêu âm hội chứng truyền máu song thai và hạn chế tăng trưởng chọn lọc của thai trong giai đoạn giữa thai kỳ, đồng thời thực hiện chọc ối tháo nước ối và chọc thủng màng ối để kéo dài tuổi thai trong hội chứng truyền máu song thai. Nhờ đó, tuổi thai của thai phụ mắc hội chứng truyền máu song thai được kéo dài và tỷ lệ sống của trẻ sơ sinh được nâng cao. Đối với thai chậm tăng trưởng và thai chậm tăng trưởng chọn lọc trong thai đôi phức tạp, khoa có thể chẩn đoán sớm và bắt đầu điều trị sớm. Đối với tan máu trong tử cung, khoa có thể xét nghiệm định kỳ kháng thể nhóm máu của thai phụ trong thai kỳ để phát hiện sớm và điều trị bằng thay huyết tương. Sau khi trẻ sơ sinh ra đời, khoa thực hiện đầy đủ các xét nghiệm tan máu và điều trị thay máu. Hiện nay, lĩnh vực này giữ vị trí dẫn đầu trong tỉnh.
(3) Y học bà mẹ
Đây là trung tâm tiếp nhận các ca bệnh sản khoa nặng và khó của bán đảo Giao Đông. Hằng năm, khoa đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ chuyển tuyến và hội chẩn từ các khu vực Giao Đông trải dài từ Lâm Nghi, Nhật Chiếu ở phía tây đến Yên Đài, Uy Hải ở phía đông, đồng thời mỗi năm tiếp nhận nhiều ca hội chẩn và sản phụ nặng được chuyển tuyến từ các khu vực lân cận. Đối với bệnh tăng huyết áp thai kỳ, việc sử dụng liều magie sulfat tương đối thấp để phòng ngừa co giật ở bệnh nhân tiền sản giật đã đạt hiệu quả tốt. Sử dụng siêu âm và các kỹ thuật xét nghiệm để đánh giá tình trạng của mẹ và thai, lựa chọn thời điểm thích hợp để chấm dứt thai kỳ, nhằm bảo đảm mức độ an toàn tối đa và tiên lượng tốt cho cả mẹ và con. Từ năm 1997, bệnh viện chúng tôi là đơn vị đầu tiên trong tỉnh triển khai công tác sàng lọc bệnh đái tháo đường thai kỳ; sau đó công tác này được phổ biến tại thành phố Thanh Đảo và các khu vực lân cận, trở thành hạng mục kiểm tra thường quy cho tất cả thai phụ. Đối với thai phụ có yếu tố nguy cơ cao, bệnh viện thực hiện sàng lọc và quản lý trước khi mang thai cũng như trong giai đoạn sớm của thai kỳ, chẩn đoán sớm và kiểm soát sớm đường huyết, qua đó giảm biến chứng của mẹ và thai trong thai kỳ, khi sinh và sau sinh. Ở nhóm bệnh nhân nặng, chẳng hạn bệnh gan nhiễm mỡ thai kỳ, viêm tụy cấp kèm thai kỳ và các bệnh nội khoa, ngoại khoa phối hợp nghiêm trọng khác như bệnh hệ tạo máu kèm thai kỳ —thiếu máu bất sản, giảm tiểu cầu, bệnh bạch cầu, v.v.—, cũng như bệnh nhân xuất huyết sau sinh nặng và DIC, khoa đã hình thành một quy trình cấp cứu điều trị lấy điều trị hỗ trợ sự sống làm nền tảng, sử dụng các kỹ thuật như kỹ thuật thay thế thận liên tục và hệ thống lọc máu bằng gan nhân tạo để điều trị hỗ trợ triệu chứng, đồng thời tích cực điều trị bệnh nguyên phát. Nhờ đó, hiệu quả cấp cứu được nâng cao rõ rệt và tỷ lệ tử vong mẹ giảm mạnh. Đối với bệnh nhân nhau tiền đạo nguy hiểm, năm 2015 Khoa Sản phối hợp với Khoa Y học can thiệp đã triển khai kỹ thuật bít tắc động mạch chủ bụng bằng bóng trong phẫu thuật. Phương pháp này sử dụng việc đặt lưu ống thông bóng động mạch chủ bụng qua chọc động mạch đùi để tạm thời chặn động mạch chủ bụng trong phẫu thuật, kiểm soát lượng máu mất trong mổ do nhau tiền đạo nguy hiểm, nâng cao độ an toàn của phẫu thuật nhau tiền đạo nguy hiểm, giảm các biến chứng liên quan đến mất máu nhiều trong phẫu thuật, cải thiện tiên lượng người bệnh, nâng cao năng lực xử trí loại bệnh nhân phức tạp, nặng này của bệnh viện chúng tôi và nâng cao chất lượng sản khoa. Trong nhiều năm liên tiếp, Khoa Sản đã tổ chức thành công các lớp đào tạo cấp quốc gia và cấp tỉnh về chẩn đoán, điều trị sớm tắc mạch ối, bệnh tăng huyết áp thai kỳ, đái tháo đường thai kỳ và cấp cứu các tình trạng nặng, nguy kịch trong sản khoa. Đối với suy giáp dưới lâm sàng kèm thai kỳ và các bệnh có tính dễ huyết khối như lupus ban đỏ hệ thống, hội chứng thận hư và các bệnh khác, khoa cũng đã thực hiện nhiều công việc và nghiên cứu, nhận được sự đánh giá cao của đông đảo người bệnh, đưa tiểu chuyên khoa y học bà mẹ của Khoa Sản bệnh viện chúng tôi lên vị trí dẫn đầu cả nước.
4. Kỹ thuật y tế
Sau nhiều năm tích lũy, hiện nay khoa chúng tôi đã trở thành trung tâm sản khoa có năng lực tổng hợp mạnh nhất trong khu vực bán đảo Giao Đông. Năm 2012, Khoa Sản của bệnh viện chúng tôi được tuyển chọn vào nhóm 10 chuyên khoa lâm sàng trọng điểm đầu tiên của tỉnh Sơn Đông và xếp thứ ba, qua đó đưa năng lực phục vụ chuyên môn, trình độ kỹ thuật, đội ngũ nhân lực và năng lực nghiên cứu khoa học của Khoa Sản bệnh viện chúng tôi lên vị trí dẫn đầu trong tỉnh. Khoa Sản hiện có 3 người giữ chức danh chuyên môn cao cấp nhất, 9 người giữ chức danh phó cao cấp, trong đó có 1 người hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ. Đây là trung tâm tiếp nhận các ca bệnh sản khoa nặng và khó của bán đảo Giao Đông. Hằng năm, khoa đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ chuyển tuyến và hội chẩn từ các khu vực Giao Đông trải dài từ Lâm Nghi, Nhật Chiếu ở phía tây đến Yên Đài, Uy Hải ở phía đông, đồng thời mỗi năm tiếp nhận nhiều ca hội chẩn và sản phụ nặng được chuyển tuyến từ các khu vực lân cận. Trung tâm Chẩn đoán trước sinh bao gồm các khoa, phòng như tư vấn di truyền, chọc dò lâm sàng sản khoa, chẩn đoán hình ảnh (siêu âm), phòng xét nghiệm sinh hóa và miễn dịch, phòng xét nghiệm di truyền tế bào. Kể từ khi chính thức thành lập, hiện nay trung tâm đã trở thành trung tâm chẩn đoán các bệnh bẩm sinh của thai nhi và một số bệnh di truyền nhiễm sắc thể tại Thanh Đảo và các khu vực lân cận. Công tác của trung tâm giữ vị trí dẫn đầu trong tỉnh và đã đóng góp tích cực vào việc nâng cao chất lượng dân số mới sinh của thành phố chúng ta.
5. Nghiên cứu khoa học và giảng dạy
Trong những năm gần đây, khoa đã đảm nhiệm 3 đề tài của Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia và hơn 10 đề tài nghiên cứu do chính quyền địa phương các cấp tỉnh, thành phố, các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp ủy thác; đạt 3 giải thưởng nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, thành phố; chủ biên hoặc phó chủ biên 4 cuốn sách. Trong những năm gần đây, khoa đã công bố tổng cộng hơn 200 bài báo khoa học trên các tạp chí học thuật công khai trong và ngoài nước; hơn 60 bài được SCI, MED và ISTP thu nhận, trong đó có 10 bài có hệ số ảnh hưởng trên 5. Hai đề tài sau khi thẩm định đã đạt trình độ tiên tiến quốc tế hoặc dẫn đầu trong nước. Đã triển khai 6 kỹ thuật và dự án mới.
Khoa là đơn vị có Phó Chủ nhiệm Phân hội Y học Chu sinh thuộc Hội Y học tỉnh Sơn Đông; là Phó Chủ nhiệm Phân hội Sản phụ khoa thuộc Hội Y học Thanh Đảo, Phó Chủ nhiệm Phân hội Y học Chu sinh thuộc Hội Y học Thanh Đảo, đồng thời là đơn vị có Phó Chủ nhiệm Phân hội Di truyền học Thanh Đảo. Khoa đã tham gia xây dựng lộ trình điều trị lâm sàng và hướng dẫn điều trị lâm sàng quốc gia về bệnh tăng huyết áp thai kỳ.
Khoa Sản là cơ sở đào tạo tiến sĩ của Đại học Thanh Đảo, đảm nhiệm giảng dạy sinh viên đại học, học viên cao học và sinh viên quốc tế của Đại học Thanh Đảo. Trong thực tiễn giảng dạy, khoa kiên trì phát triển và đổi mới, triển khai giảng dạy đa phương tiện và giảng dạy song ngữ, đạt hiệu quả rõ rệt. Khoa đã đào tạo tổng cộng 2.400 sinh viên đại học, hơn 30 học viên thạc sĩ và 5 nghiên cứu sinh tiến sĩ. Khoa đã nhiều lần tổ chức các lớp giáo dục y khoa liên tục và hoạt động giao lưu học thuật ở các cấp. Trong những năm gần đây, Phòng Giáo học và Nghiên cứu nhiều lần được trao danh hiệu “Tập thể tiên tiến về giảng dạy” và “Tập thể tiên tiến tiêu biểu về đạo đức nhà giáo”; nhiều người lần lượt được bình chọn là “Giảng viên hướng dẫn học viên sau đại học xuất sắc tỉnh Sơn Đông”, “Giảng viên hướng dẫn học viên sau đại học xuất sắc Đại học Thanh Đảo”, “Giảng viên xuất sắc Đại học Thanh Đảo” và “Cán bộ tiêu biểu về đạo đức nhà giáo Đại học Thanh Đảo”.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn
Bác sĩ
Hồ sơ bác sĩ: 17
刘世国
Bác sĩ ở ngạch phó chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Chuyên tư vấn di truyền tiền hôn nhân và sinh sản tối ưu; chẩn đoán, điều trị sảy thai liên tiếp; chẩn đoán trước sinh bất thường nhiễm sắc thể; chẩn đoán gen và trước sinh bệnh đơn gen.
叶元华
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Điều trị lâm sàng toàn diện xuất huyết sản khoa khó kiểm soát và thai kỳ nguy cơ cao.
崔雪娜
Bác sĩ ở ngạch phó chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Quản lý đái tháo đường thai kỳ, xử trí nhau cài răng lược, xử trí cấp cứu và bệnh nặng sản khoa, xử trí đẻ khó, dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe thai kỳ, v.v.