Huyết học
Giới thiệu khoa
Từ khi thành lập năm 1972, Khoa Huyết học của Bệnh viện Y học cổ truyền Trung Quốc tỉnh Chiết Giang luôn kiên định với quan điểm phát triển coi trọng ngang nhau giữa y học Trung Quốc và y học phương Tây, là một trong những cơ quan sớm nhất ở Trung Quốc triển khai điều trị bệnh máu bằng y học kết hợp Trung – Tây và là một trong những chuyên khoa huyết học kết hợp có quy mô lớn nhất nước. Năm 2005 nằm trong nhóm bệnh viện đầu tiên do Ngân hàng Tủy xương Trung Quốc chỉ định làm bệnh viện ghép và thu nhận tế bào gốc tạo máu; năm 2008 trở thành Cơ sở nghiên cứu lâm sàng y học cổ truyền cấp quốc gia (bệnh máu), năm 2018 trở thành Trung tâm y học cổ truyền vùng cấp quốc gia chẩn đoán và điều trị bệnh máu, năm 2024 trở thành Đơn vị xây dựng chuyên khoa ưu thế y học cổ truyền cấp quốc gia. Đồng thời là học khoa và chuyên khoa trọng điểm về bệnh máu của Cục Quản lý Y học cổ truyền Trung Quốc, và là đơn vị trưởng Tổ hợp tác quốc gia về thiếu máu bất sản. Trong Báo cáo đánh giá ảnh hưởng học thuật các học khoa (chuyên khoa) của các bệnh viện y học cổ truyền phát hành lần đầu năm 2021, khoa đứng đầu toàn quốc. Hiện khoa có 5 khu điều trị với 258 giường và 21 phòng sạch dòng chảy phân tầng vô trùng. Đội ngũ chuyên gia huyết học về y học Trung Quốc, y học phương Tây và y học kết hợp bao gồm 2 vị thầy hướng dẫn danh y y học cổ truyền cấp quốc gia, 2 người kế thừa kinh nghiệm học thuật của chuyên gia lão thành y học cổ truyền cấp quốc gia, 2 danh y y học cổ truyền tỉnh Chiết Giang cùng nhiều nhân tài cấp tỉnh, cấp bộ trở lên.
Ưu thế kỹ thuật
Khoa có thế mạnh riêng biệt trong chẩn đoán và điều trị kết hợp Trung – Tây đối với các loại thiếu máu (gồm thiếu máu bất sản và thiếu máu tán huyết), bệnh bạch cầu cấp và mãn tính, giảm tiểu cầu, u lympho, hội chứng loạn sản tủy, đa u tủy và các bệnh khác.
1. Thiếu máu bất sản: Là bệnh trọng điểm của Cơ sở nghiên cứu lâm sàng y học cổ truyền cấp quốc gia về bệnh máu, đã hình thành hệ thống can thiệp y học cổ truyền hoàn chỉnh cho thiếu máu bất sản của bệnh viện, kết hợp biện chứng luận trị, biện bệnh luận trị và luận trị theo giai đoạn, dùng phối hợp với y học phương Tây, đạt hiệu quả vượt trội và được ghi nhận trên toàn quốc. Năm 1954, khoa đạt ca điều trị thành công đầu tiên trên toàn quốc thiếu máu bất sản bằng y học kết hợp Trung – Tây. Khoa đã dẫn dắt các nghiên cứu lâm sàng đa trung tâm trong tỉnh và toàn quốc, khẳng định điều trị phối hợp bằng y dược cổ truyền có thể nâng cao hiệu quả lâm sàng một cách hiệu quả, giảm độc tính và tác dụng phụ của các thuốc như thuốc ức chế miễn dịch và androgen, điều hòa rối loạn miễn dịch của bệnh, giảm sự phụ thuộc truyền máu. Các sáng tạo bao gồm biện chứng luận trị ba giai đoạn bốn thể cho thiếu máu bất sản cấp ("lương – ôn – nhiệt"), và với thiếu máu bất sản mạn tính là các lý thuyết "bổ thận hoạt huyết", "trị đàm và ứ cùng lúc", "độc ẩn gây bệnh". Khoa đã hai lần đạt Giải nhì, Ba Khoa học – Kỹ thuật tiến bộ của tỉnh Chiết Giang. Khoa là đơn vị đầu tiên đề xuất lý thuyết "tủy nguyên" về ghép trong thiếu máu bất sản và ứng dụng lâm sàng, làm rõ quy luật biến chuyển chứng trạng y học cổ truyền trong quá trình ghép và cơ sở vật chất; điều trị bằng y dược cổ truyền theo giai đoạn có thể hiệu quả nâng cao tỷ lệ hóa huyết của tế bào gốc, giảm thải ghép và tái hoạt hóa virus. Ứng dụng sáng tạo pháp bổ thận hoạt huyết khử ứ để can thiệp trước ghép tế bào gốc tạo máu đồng loại ở thiếu máu bất sản nặng và giai đoạn sớm sau ghép đạt tỷ lệ hóa huyết 94,1%, tỷ lệ tử vong do biến chứng liên quan ghép 5,8% và tỷ lệ mắc GVHD nặng 5,8%.
2. Y dược cổ truyền phối hợp ghép tế bào gốc tạo máu: Hơn 30 năm khoa đã nghiên cứu ứng dụng y dược cổ truyền phối hợp ghép tế bào gốc điều trị bệnh máu kháng trị, thiết lập mô hình hoàn chỉnh về ghép tế bào gốc tạo máu phối hợp y dược cổ truyền; là đơn vị đầu tiên của tỉnh Chiết Giang triển khai kỹ thuật mức độ khó cao này. Trung tâm ghép có thể thực hiện các loại ghép khó cao tiên tiến nhất trong và ngoài nước: ghép bán tương hợp, ghép từ người cho không cùng huyết thống, ghép máu dây rốn và các loại ghép khó khác; ứng dụng ghép tế bào gốc tạo máu không chỉ cho các bệnh máu lành tính và ác tính mà còn cho các bệnh miễn dịch kháng trị – tái phát như lupus ban đỏ kháng trị – tái phát và nhược cơ, đạt Giải nhì, Ba Khoa học – Kỹ thuật của Chính phủ tỉnh và Giải Ba Hội Y học cổ truyền Trung Quốc. Khoa nghiên cứu sáng tạo nền tảng lý luận y học cổ truyền của ghép tế bào gốc tạo máu, đầu tiên đề xuất khái niệm "tủy nguyên" trong quá trình ghép, dùng lý luận y học cổ truyền giải thích các vấn đề ghép và làm rõ quy luật biến chuyển chứng trạng trong ghép. Mỗi năm thực hiện hơn 100 ca ghép các loại, tỷ lệ thành công trên 98%, sống không bệnh trên 60%; tỷ lệ thành công ghép đạt trình độ tiên tiến quốc tế, mang lại sự sống mới cho nhiều bệnh nhân mắc bệnh máu ác tính.
3. Giảm tế bào máu: Để chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt giảm tế bào máu — gồm cả giảm tế bào máu do xạ hóa trị khối u, do thuốc, do lupus ban đỏ hệ thống, viêm khớp dạng thấp và bệnh gan cấp – mạn — phòng thí nghiệm chính xác huyết học kết hợp Trung – Tây của bệnh viện dựa trên xét nghiệm gen, hệ thống hỗ trợ AI và nghiên cứu khoa học phối hợp Trung – Tây, dùng kỹ thuật đo dòng tế bào và phân tích nhân dạng nhiễm sắc thể để xác định dòng vô tính ác tính, trong khi chuyên gia y học cổ truyền đồng thời phân thể chứng (như khí huyết lưỡng hư, tỳ thận dương hư), thực hiện liên kết ba chiều "bệnh – triệu – chứng", hòa trộn sâu sắc chẩn đoán chính xác của y học phương Tây với điều trị toàn thể của y học cổ truyền, liên tục thúc đẩy đổi mới kỹ thuật chẩn trị, cung cấp cho bệnh nhân phương án y tế cá thể hóa bao trùm toàn chu kỳ.
4. Giảm tiểu cầu miễn dịch: Từ thập niên 1970 đã triển khai điều trị giảm tiểu cầu miễn dịch bằng y dược cổ truyền, dần hình thành nguyên tắc trị liệu "bệnh tử tán — trị từ khí và âm". Khoa huyết học chủ trì nghiên cứu chuyên đề ITP của Bộ Khoa học – Công nghệ, chứng minh ưu thế của bài thuốc kinh nghiệm "Tăng huyết thang" của bệnh viện trong việc nâng mức tiểu cầu và giảm dùng hormone. Trên cơ sở đó, tiếp tục nghiên cứu sâu hơn vai trò của can thiệp bằng thuốc y học cổ truyền hỗ trợ cai hormone ở "bệnh tử tán", nhận thức đầy đủ ưu thế của y học cổ truyền trong cải thiện mệt mỏi lâm sàng và chảy máu của người bệnh, nâng cao đáp ứng tổng thể với điều trị. Khoa tham gia soạn thảo phương án chẩn trị lâm sàng bằng y học cổ truyền và lộ trình lâm sàng "bệnh tử tán" của Cục Quản lý Y học cổ truyền Trung Quốc.
5. U lympho: Trong điều trị u lympho kết hợp Trung – Tây, khoa tập trung giảm độc tính phụ và tăng hiệu quả trong giai đoạn quanh hóa trị, duy trì điều trị và phòng tái phát trong giai đoạn theo dõi, và can thiệp trong quá trình ghép tế bào gốc tạo máu, phân thể chứng theo đặc điểm gây bệnh của u lympho. Nổi bật trị "đàm" làm chủ, biện chứng chia thành năm thể kết hợp điều trị phương Tây, hiệu quả rõ rệt. Đặc biệt "giải độc tiêu lũy phương" do khoa sáng chế, kết hợp gia giảm theo chứng trạng lâm sàng, có thể cải thiện rõ rệt các chỉ số gánh khối u như lactate dehydrogenase và beta-2 microglobulin.
6. Bạch cầu: Năm 1976 lần đầu công bố các ca bệnh bạch cầu hạt cấp được điều trị thành công bằng "kháng bạch huyết thập thất vị thang" (Anti-leukemia Seven-ingredient Decoction), đạt sống sót 20 năm. Trên cơ sở đó sáng tạo thêm "kháng bạch niên niên thang". Ngoài ra, học khoa đi đầu trong nước triển khai nghiên cứu lâm sàng điều trị bạch cầu bằng harringtonine – chất từ cây thuốc Trung Quốc, và phác đồ HA do khoa tiên phong đã trở thành một trong những phác đồ chuẩn điều trị bạch cầu cấp không lympho ở Trung Quốc. Khoa huyết học dùng "kháng bạch niên niên thang" phối hợp phác đồ HA liều thấp, về cơ bản làm rõ rằng y dược cổ truyền phối hợp hóa trị liều thấp có thể nâng cao rõ rệt tỷ lệ hoàn thành hóa trị và chất lượng cuộc sống của người bệnh, cải thiện tiên lượng bệnh và kéo dài thời gian sống.
7. Đa u tủy: Trong điều trị kết hợp Trung – Tây đa u tủy, theo quan niệm "can thiệp chính xác theo giai đoạn, Trung – Tây hiệp đồng tăng hiệu quả", đa u tủy được phân loại theo triệu chứng và thể chất thành các thể chứng khác nhau như thể khí huyết hư suy, thể can thận âm hư, thể tỳ thận dương hư, thể đàm ứ tắc trở, thể thận hư huyết ứ, và dùng các bài thuốc y học cổ truyền tương ứng cho từng thể. Trong điều trị chú trọng kết hợp chỉnh chính với khu tà: một mặt, bổ khí dưỡng huyết, kiện tỳ ích thận để tăng chính khí và sức đề kháng của cơ thể; mặt khác, dùng thuốc thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết hóa ứ, hóa đàm nhục kiên để trừ tà và giảm gánh khối u. Chiến lược coi trọng song song chỉnh chính – khu tà này giúp cải thiện triệu chứng, nâng cao chất lượng sống và kéo dài thời gian sống. Đồng thời, trên nền điều trị phương Tây, y học cổ truyền có thể giảm hiệu quả tác dụng phụ của hóa trị và trị liệu nhắm mục tiêu (như bệnh thần kinh ngoại biên).
8. Hội chứng loạn sản tủy: Từ thập niên 1990 đã điều trị phân tầng bệnh nhân MDS theo hướng dẫn của WHO, phát triển nhiều phác đồ hiệu quả phối hợp với y học cổ truyền, lấy "chỉnh chính củ cố" làm chủ chỉ, nâng cao miễn dịch của người bệnh, cải thiện bệnh, nâng chất lượng sống. Với bệnh nhân trẻ nhóm nguy cơ trung bình – cao, áp dụng ghép tế bào gốc tạo máu đồng loại phối hợp y học cổ truyền, tăng tốc độ hóa huyết, nâng cao tỷ lệ thành công ghép, giảm tái phát, đạt hiệu quả rất tốt; với bệnh nhân cao tuổi hoặc không dung nạp hóa trị liều chuẩn, áp dụng phác đồ kết hợp Trung – Tây do khoa phát triển thúc đẩy tạo máu và giảm apoptosis tế bào, đạt hiệu quả khá tốt.
Vị thế học thuật
Khoa Huyết học Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Chiết Giang là học khoa trọng điểm và chuyên khoa trọng điểm về bệnh máu của Cục Quản lý Y học cổ truyền Trung Quốc, đơn vị trưởng Tổ hợp tác thiếu máu bất sản thuộc bệnh chuyên đề trọng điểm "kế hoạch 5 năm lần thứ 11", Cơ sở nghiên cứu lâm sàng y học cổ truyền cấp quốc gia (bệnh máu) từ 2008, Trung tâm y học cổ truyền vùng cấp quốc gia về bệnh máu từ 2018, chuyên khoa ưu thế y học cổ truyền cấp quốc gia từ 2024, và là đơn vị chủ tịch Ban bệnh máu của Hội y học cổ truyền tỉnh và Hội y học kết hợp Trung – Tây tỉnh Chiết Giang. Trong Báo cáo đánh giá ảnh hưởng học thuật các học khoa (chuyên khoa) bệnh viện y học cổ truyền do Hội Y học cổ truyền Trung Quốc cùng Viện Hàn lâm Khoa học Y học cổ truyền Trung Quốc phát hành, ảnh hưởng học thuật tổng hợp của học khoa xếp thứ nhất toàn quốc.
Thành quả nghiên cứu
Khoa dẫn dắt 11 đơn vị toàn quốc hoàn thành việc sửa đổi hướng dẫn chẩn trị bằng y học cổ truyền cho thiếu máu bất sản, tổ chức hoàn thành 2 đề tài nghiên cứu chuyên ngành y dược cổ truyền cấp quốc gia (tổng kinh phí 15,20 triệu nhân dân tệ); là đơn vị tiên phong trong nước nghiên cứu y dược cổ truyền phối hợp ghép tế bào gốc tạo máu điều trị thiếu máu bất sản, hình thành một hệ thống hoàn chỉnh các phương án kỹ thuật điều trị tiêu chuẩn hóa. Chủ trì soạn thảo hướng dẫn chẩn trị bằng y học cổ truyền cho bệnh bạch cầu cấp và đồng thuận chẩn trị kết hợp Trung – Tây cho u lympho, tham gia xây dựng lộ trình lâm sàng y học cổ truyền cho 4 bệnh "bạch cầu", "bệnh tử tán", "tử điền phong", "hư lao (giảm bạch cầu)", tham gia xây dựng hướng dẫn điều trị đa u tủy bằng y học cổ truyền, được áp dụng và phổ biến như quy chuẩn ngành. Đạt 12 giải thưởng cấp tỉnh, cấp bộ trở lên gồm Giải nhì, Ba Khoa học – Kỹ thuật của Chính phủ tỉnh và Giải Ba Hội Y học cổ truyền Trung Quốc; sở hữu 25 bằng sáng chế, 5 quyền tác giả phần mềm, 2 chế phẩm trong bệnh viện, và tổ chức thực hiện hai đợt tổng cộng 29 đề tài nghiên cứu chuyên đề xây dựng năng lực cơ sở với quỹ mở 6,05 triệu nhân dân tệ, bao trùm 16 tỉnh, thành trên cả nước.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn