Thận học
1. Tổng quan chuyên ngành
Khoa Thận được thành lập vào năm 1979, là chuyên ngành cấp ba về thận đầu tiên trong toàn tỉnh có bệnh phòng độc lập và cơ cấu tổ chức hoàn chỉnh; ngay từ đầu những năm 1980 đã triển khai sinh thiết thận qua da, đo chức năng cầu thận và ống thận, đồng thời thành lập phòng lọc màng bụng và phòng lọc máu theo tiêu chuẩn; năm 1990 xây dựng trung tâm lọc máu quy mô lớn đạt trình độ hàng đầu trong nước. Đây là một trong những đơn vị đầu tiên được Quốc vụ viện phê chuẩn là cơ sở đào tạo và cấp bằng thạc sĩ, đồng thời trở thành đơn vị được cấp quyền đào tạo và cấp bằng tiến sĩ vào năm 2009. Khoa Thận là chuyên khoa trọng điểm của tỉnh Sơn Đông, chuyên khoa đặc sắc của thành phố Thanh Đảo; lần lượt được trao các danh hiệu và giải thưởng gồm khoa có năng lực phát triển nổi bật nhất của bệnh viện, top 10 khoa, giải quản lý khoa về văn minh tinh thần, giải chất lượng y tế xuất sắc, giải quản lý nhiễm khuẩn xuất sắc và chi bộ Đảng xuất sắc. Đây là Cơ sở công tác dược chuyên ngành thận cấp quốc gia, Cơ sở đào tạo bác sĩ nội trú chuyên ngành thận cấp quốc gia, Cơ sở thử nghiệm thuốc lâm sàng cấp quốc gia và Cơ sở đào tạo chuyên khoa điều dưỡng lọc máu.
Nhờ những nỗ lực không ngừng, tinh thần tiến thủ và đổi mới liên tục của nhiều thế hệ trong khoa, Khoa Thận đã đạt được bước tiến nhảy vọt về chất trong quy mô khoa, trình độ học thuật, trang thiết bị y tế và đào tạo nhân tài. Dưới sự lãnh đạo của trưởng khoa, đội ngũ nhân viên y tế các cấp sẽ tiếp tục nâng cao kỹ thuật y tế bằng dịch vụ chất lượng cao và thái độ nhiệt tình, xây dựng thương hiệu của ngành, nỗ lực đưa Khoa Thận trở thành trung tâm chẩn đoán và điều trị bệnh thận hàng đầu của tỉnh Sơn Đông, thậm chí của cả nước. Chuyên ngành luôn quán triệt quan điểm lấy nhu cầu của người bệnh làm trung tâm, không ngừng nỗ lực trong việc chuẩn hóa hoạt động y tế, nâng cao trình độ chẩn đoán và điều trị các ca bệnh khó, triển khai đổi mới kỹ thuật lâm sàng, phổ biến quan niệm y học chuyển dịch và nâng cao phẩm chất toàn diện của nhân viên, qua đó đạt được mục tiêu cung cấp dịch vụ y tế chất lượng cao cho người bệnh.
2. Đội ngũ nhân lực
Khoa Thận có một tập thể y tế, giảng dạy và nghiên cứu khoa học trình độ cao, với người đứng đầu là các giáo sư hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ, lực lượng nòng cốt là một nhóm cán bộ kỹ thuật trẻ và trung niên có trình độ cao, đồng thời có đầy đủ các chuyên ngành. Hiện chuyên ngành có 27 bác sĩ, gồm 7 giáo sư, 6 phó giáo sư, 8 bác sĩ điều trị và 6 bác sĩ nội trú. Trong đó có 13 người có bằng tiến sĩ và 14 người có bằng thạc sĩ. Có 2 người hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ và 12 người hướng dẫn nghiên cứu sinh thạc sĩ. Người đứng đầu chuyên ngành đồng thời đảm nhiệm các chức vụ: Phó chủ nhiệm Hội Chẩn đoán học toàn quốc, ủy viên toàn quốc của Ủy ban Chuyên môn Nội thận thuộc Hội Bác sĩ Trung Quốc, ủy viên toàn quốc của Ủy ban Chuyên môn Thận và Lọc máu thuộc Hội Y tế ngoài công lập Trung Quốc, ủy viên toàn quốc của Ủy ban Chuyên môn Bệnh thận thuộc Hội Dược lý Trung Quốc, ủy viên toàn quốc của Ủy ban Chuyên gia Bệnh thận và Lọc máu thuộc Hội Nữ bác sĩ Trung Quốc, chuyên gia đánh giá các khóa học chất lượng cao cấp quốc gia, chuyên gia đánh giá Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia và chuyên gia trẻ, trung niên có đóng góp nổi bật của tỉnh Sơn Đông. Cơ cấu đội ngũ nhân lực của khoa hợp lý, tạo nền tảng bảo đảm vững chắc cho sự phát triển nhảy vọt của công tác khám chữa bệnh, giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Người đứng đầu các chuyên ngành phụ đều là cán bộ có chức danh chuyên môn cao cấp chính; đã thành lập các chuyên ngành phụ gồm lọc máu, lọc màng bụng, tổn thương thận do tự miễn, hội chứng thận hư, làm chậm tiến triển suy thận, tổn thương thận do bệnh chuyển hóa và bệnh ống-kẽ thận.
3. Đặc điểm chuyên môn
(1)Lọc máu
Khoa Thận hiện có cơ sở Thị Nam và cơ sở Tây Hải Ngạn; mỗi cơ sở đều có phòng khám, bệnh phòng và trung tâm lọc máu. Hiện khoa có tổng cộng 83 máy lọc máu, 10 máy online HDF và 6 máy CRRT. Số lượt khám ngoại trú hằng năm là 66.000, số lượt bệnh nhân nội trú hằng năm trên 1.400. Số bệnh nhân lọc máu định kỳ trên 520 người, đứng đầu trong tỉnh. Số lượt lọc máu hằng năm ≥70.000, CRRT gần 1.000 lượt/năm. Khoa đã triển khai các kỹ thuật như lọc máu lưu lượng cao, lọc máu lưu lượng cao (HFHD), lọc máu thẩm tách thể tích cao (HVHF), hấp phụ miễn dịch, thay huyết tương, hấp phụ máu, điều trị thay thế thận liên tục (CRRT), lọc máu liên tục chậm hiệu suất thấp (SLED) và điều trị lọc máu kết hợp. Các mô hình điều trị cá thể hóa bổ sung cho nhau đã nâng cao đáng kể hiệu quả cứu chữa và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân suy thận cấp và mạn tính. Đặc biệt, số lượng tiếp nhận và điều trị bệnh nhân suy thận cấp và mạn tính cao tuổi, nguy kịch và phức tạp luôn đứng đầu. Trong 5 năm gần đây, nhiều kỹ thuật mới đã được triển khai thành công. Đối với trẻ em có cân nặng trên 25 kg, khoa đã triển khai thành công lọc máu nhi khoa; việc triển khai kỹ thuật chống đông bằng citrate đã tìm ra giải pháp hiệu quả cho điều trị lọc máu ở bệnh nhân chảy máu hoạt động, nâng cao hiệu quả cứu chữa bệnh nhân chảy máu hoạt động nguy cơ cao; kỹ thuật tiêm không đau ngày càng hoàn thiện, giảm đau đớn do chọc kim mạch máu ở bệnh nhân lọc máu. Đối với bệnh nhân mắc các bệnh thận khó và nguy kịch, khoa đã thành lập các nhóm điều trị đa chuyên ngành cho bệnh nhân “cường cận giáp thứ phát do urê huyết”, “bệnh mạch máu ngoại biên và bệnh tim mạch ở bệnh thận giai đoạn cuối” và “bệnh lý u ở bệnh thận giai đoạn cuối”, đồng thời đã triển khai thành công các điều trị phẫu thuật liên quan.
(2)Kỹ thuật sinh thiết thận bằng kim
Sinh thiết thận bằng kim là kỹ thuật lấy mô thận dưới hướng dẫn của siêu âm B, sau đó tiến hành các xét nghiệm như kính hiển vi quang học, kính hiển vi điện tử, hóa mô miễn dịch, miễn dịch huỳnh quang và các phương pháp nhuộm đặc biệt khác, từ đó xác định rõ loại bệnh lý của tổn thương thận, cung cấp cơ sở đáng tin cậy cho việc hướng dẫn sử dụng thuốc trên lâm sàng và ước tính tiên lượng. Khoa đã mua máy siêu âm chẩn đoán màu B di động tiên tiến của Hoa Kỳ và triển khai sinh thiết thận bằng kim tại giường. Đối với bệnh nhân nghi viêm cầu thận tiến triển nhanh, suy thận cấp, viêm thận kẽ cấp, lupus ban đỏ hệ thống, cũng như bệnh nhân có protein niệu hoặc tiểu máu không rõ nguyên nhân, khoa thường quy thực hiện sinh thiết thận bằng kim, giúp các bệnh này được chẩn đoán bệnh lý rõ ràng. Kỹ thuật này cung cấp cơ sở đáng tin cậy để xác định loại bệnh lý, hướng dẫn điều trị bằng thuốc khoa học trên lâm sàng, ước tính tiên lượng bệnh và xây dựng chế độ theo dõi; nâng cao tỷ lệ phù hợp chẩn đoán, tránh lãng phí và tác dụng phụ do lạm dụng thuốc. Tất cả bác sĩ có chức danh từ bác sĩ điều trị trở lên đều có thể thành thạo kỹ thuật sinh thiết thận bằng kim. Hiện mỗi năm khoa thực hiện trên 300 ca sinh thiết thận bằng kim, tích lũy được kinh nghiệm phong phú trong lĩnh vực này; máy siêu âm chẩn đoán màu B di động đã nâng cao đáng kể mức độ hoàn thiện kỹ thuật và hệ số an toàn.
(3)Lọc màng bụng
Khoa là đơn vị đầu tiên trong tỉnh triển khai lọc màng bụng và từng bước thành lập chuyên ngành phụ lọc màng bụng. Số ca đặt catheter lọc màng bụng hằng năm ≥100 ca, tổng số bệnh nhân đang điều trị trên 200 người. Là một thế mạnh truyền thống của chuyên ngành nội thận, lọc màng bụng đã có phòng bệnh lọc màng bụng hoàn chỉnh và được bố trí đội ngũ điều dưỡng chuyên nghiệp. Khoa đã xây dựng một hệ thống quản lý hoàn chỉnh cho bệnh nhân lọc màng bụng, lập hồ sơ lọc máu đầy đủ cho từng bệnh nhân. Định kỳ đến thăm bệnh nhân lọc màng bụng tại nhà, hướng dẫn kỹ thuật và tư vấn đời sống cho họ, giúp chất lượng cuộc sống của đa số bệnh nhân được cải thiện rõ rệt, đồng thời đưa kỹ thuật lọc màng bụng trở thành một trong những thế mạnh thương hiệu của Khoa Nội thận Qingyi.
(4)Bệnh thận di truyền
Hiện đã thành lập phòng khám chuyên bệnh. Trong 3 năm gần đây, khoa đã tiếp nhận trên 2.000 lượt bệnh nhân mắc bệnh ống-kẽ thận, bệnh thận di truyền và bệnh hạ kali máu. Bằng phương pháp giải trình tự gen và các xét nghiệm đặc biệt, khoa đã xác định chẩn đoán cho nhiều bệnh nhân và xây dựng phác đồ điều trị hiệu quả, với độ chính xác chẩn đoán cao. Khoa đã phối hợp đa chuyên ngành với khoa bệnh lý, khoa xét nghiệm, khoa chẩn đoán hình ảnh và các khoa khác, cung cấp hỗ trợ kỹ thuật mạnh mẽ cho chẩn đoán và điều trị bệnh. Ngoài ra, chuyên ngành phụ này cũng đạt được nhiều thành quả trong nghiên cứu khoa học về bệnh ống-kẽ thận và tích lũy kinh nghiệm lâm sàng phong phú trong chẩn đoán và điều trị các bệnh thận thường gặp.
(5)Suy thận cấp
Khoa tập trung toàn diện, cả về nghiên cứu khoa học và lâm sàng, vào việc nghiên cứu cơ chế bệnh sinh của suy thận cấp, tìm kiếm các dấu ấn sớm của suy thận cấp, hoàn thiện quy phạm chẩn đoán và điều trị suy thận cấp, đồng thời từng bước nâng cao năng lực xử trí các biến chứng khó và nguy kịch. Trong 3 năm gần đây, khoa đã điều trị thành công trên 200 bệnh nhân suy thận cấp. Các kỹ thuật lọc máu như lọc máu thông thường, lọc máu - lọc và CRRT đã cung cấp hỗ trợ kỹ thuật mạnh mẽ cho điều trị suy thận cấp. Nhóm nghiên cứu khoa học do Giáo sư Từ Nham đứng đầu đã tích cực tìm tòi, đăng ký thành công đề tài Chương trình chung của Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia, nhận được kinh phí nghiên cứu 1 triệu nhân dân tệ, tạo sự hỗ trợ mạnh mẽ cho việc tiếp tục nghiên cứu cơ chế bệnh sinh của suy thận cấp và tìm kiếm các phương pháp điều trị can thiệp.
(6)Bệnh thận nguyên phát và thứ phát
Đối với các bệnh thận nguyên phát như bệnh thận tự miễn (viêm mạch máu nhỏ liên quan ANCA, viêm thận lupus, v.v.) và bệnh thận IgA, cũng như các bệnh thận thứ phát như bệnh thận do đái tháo đường, bệnh thận do tăng huyết áp, bệnh thận do tăng acid uric máu và bệnh thận liên quan béo phì, khoa xây dựng phác đồ điều trị cá thể hóa và tìm hiểu các biện pháp phòng ngừa, điều trị lâm sàng toàn diện. Trong nghiên cứu cơ bản, khoa đã tìm hiểu cơ chế bệnh sinh và điều trị can thiệp ở các mức độ động vật, bệnh lý, tế bào, protein và gen. Hiện khoa đã đạt được những thành quả nhất định trong nghiên cứu cơ chế bệnh sinh và chẩn đoán, điều trị lâm sàng viêm mạch máu nhỏ liên quan ANCA, viêm thận lupus, bệnh thận do đái tháo đường và bệnh thận do tăng huyết áp.
4. Nghiên cứu khoa học và giảng dạy
Trong những năm gần đây, khoa đã đảm nhiệm 3 đề tài thuộc Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia và hơn 20 dự án nghiên cứu khoa học của chính quyền địa phương các cấp tỉnh, thành phố; kinh phí nghiên cứu khoa học có thể sử dụng là 2,92 triệu nhân dân tệ; 12 đề tài sau nghiệm thu được đánh giá đạt trình độ tiên tiến quốc tế hoặc dẫn đầu trong nước. Khoa đã nhận hơn 10 giải thưởng nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, thành phố; chủ biên và đồng chủ biên 10 tác phẩm, công bố trên 200 bài báo trên các tạp chí cốt lõi, trong đó hơn 30 bài được SCI lập chỉ mục; chủ biên 5 tác phẩm và tham gia biên soạn 9 tác phẩm; có 2 bằng sáng chế phát minh và 15 bằng sáng chế mô hình hữu ích. Khoa cũng mời các học giả nổi tiếng làm giáo sư thỉnh giảng; hơn 10 lượt người đã ra nước ngoài du học hoặc thăm học, 3 tiến sĩ đã hoàn thành việc học và trở về Trung Quốc, đồng thời phát huy vai trò tích cực trong sự phát triển của chuyên ngành.
Chuyên ngành cũng chú trọng xây dựng đội ngũ giảng dạy, xây dựng kế hoạch đào tạo giáo viên trẻ và trung niên, xác định rõ trách nhiệm và mục tiêu đào tạo. Khoa có đội ngũ giảng viên hùng hậu; tất cả giáo viên giảng dạy đều có bằng tiến sĩ hoặc thạc sĩ, có kinh nghiệm giảng dạy tốt, trình độ học thuật và trình độ ngoại ngữ cao. Hằng năm, khoa hoàn thành thuận lợi nhiệm vụ giảng dạy lý thuyết, kiến tập và thực tập cho sinh viên y khoa hệ 5 năm, hệ 7 năm và lưu học sinh Đông Nam Á. Để tăng cường kỹ năng lâm sàng cho nhân viên y tế trẻ và nghiên cứu sinh, khoa đã tổ chức thành công “Cuộc thi kỹ năng lâm sàng lần thứ nhất của Khoa Nội thận”. Thông qua cuộc thi, các kỹ năng cơ bản của nhân viên y tế được nâng cao, sự gắn kết của khoa và không khí học tập được tăng cường.
Khoa Thận coi trọng giảng dạy thực hành cho nghiên cứu sinh, có kế hoạch giảng dạy và đào tạo nghiên cứu sinh có hệ thống, đã đào tạo tổng cộng trên 100 nghiên cứu sinh. Có 12 nghiên cứu sinh tiến sĩ. Nghiên cứu sinh của khoa liên tiếp 3 khóa giành giải nhất “Cuộc thi viết bệnh án dành cho nghiên cứu sinh toàn bệnh viện” và giải nhất “Cuộc thi diễn thuyết tiếng Anh”; nhiều nghiên cứu sinh đã nhận được học bổng quốc gia.
5. Hướng dẫn khám bệnh
(1)Vị trí khoa
Phòng khám cơ sở Thị Nam: Tầng 4 tòa nhà phòng khám
Cơ sở Lao Sơn: Tầng 2 tòa nhà phòng khám
Cơ sở Tây Hải Ngạn: Tầng 2 tòa nhà phòng khám
Bệnh phòng cơ sở Thị Nam: Tầng 3 Khu điều trị nội trú số 1
Cơ sở Tây Hải Ngạn: Tầng 10 tòa nhà bệnh phòng, tòa B
Trung tâm lọc máu: Cơ sở Thị Nam: Tầng 3 Khu điều trị nội trú số 1
Cơ sở Tây Hải Ngạn: Tầng 2 tòa nhà bệnh phòng, tòa B
(2)Điện thoại tư vấn
Cơ sở Thị Nam: 82911301,82911601
Cơ sở Tây Hải Ngạn: 82919619 ,82919169
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn
Bác sĩ
Hồ sơ bác sĩ: 12
刘丽秋
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Chuyên về suy thận cấp, mạn khó và nặng, cùng lĩnh vực lọc màng bụng cho người bệnh urê huyết.
刘雪梅
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Chuyên chẩn đoán và điều trị các bệnh thận như viêm cầu thận, hội chứng thận hư, viêm thận lupus và suy thận cấp, mạn.
周海燕
Bác sĩ ở ngạch phó chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Chẩn đoán và điều trị bệnh cầu thận nguyên phát, bệnh thận do đái tháo đường, cũng như các bệnh suy thận cấp và mạn tính khác nhau.