Phẫu thuật tim mạch
I. Tổng quan về khoa
Khoa Ngoại tim mạch được thành lập vào những năm 1970 của thế kỷ XX, được công nhận là cơ sở đào tạo cấp bằng thạc sĩ vào năm 1996 và cấp bằng tiến sĩ vào năm 2006. Sau hơn 30 năm nỗ lực không ngừng và khám phá của nhiều chuyên gia, giáo sư, khoa đã phát triển thành một khoa ngoại tim mạch có đội ngũ nhân lực và cấu trúc chuyên môn hợp lý, tổng sức mạnh trong y tế, giáo dục và nghiên cứu thuộc nhóm tiên tiến của Trung Quốc, có tiếng trong và ngoài nước. Khoa là chuyên khoa lâm sàng trọng điểm của tỉnh Sơn Đông, trung tâm điều trị ngoại khoa và nghiên cứu bệnh tim mạch lớn nhất miền Đông tỉnh Sơn Đông, đồng thời là chuyên khoa đặc sắc của thành phố Thanh Đảo, đảm nhận nhiệm vụ cấp cứu và điều trị bệnh nhân mắc bệnh tim và mạch máu lớn cùng các trạng thái nguy kịch của họ tại Thanh Đảo và bán đảo Giao Đông.
Từ năm 2013, dưới sự dẫn dắt của Chủ nhiệm Yang Sumin (杨苏民), Khoa Ngoại tim mạch đã phát triển nhanh chóng. Hiện nay khoa A nội trú có 33 giường, khoa B nội trú có 26 giường, khoa chăm sóc tích cực có 27 giường, trang thiết bị tiên tiến thuộc hàng dẫn đầu trong nước. Cơ sở Tây Hải có 48 giường. Mỗi năm thực hiện hơn 1.300 ca phẫu thuật, trong đó các ca nguy kịch, phức tạp và bệnh nhân cao tuổi chiếm trên 40%, tỷ lệ tử vong do phẫu thuật dưới 2%, thuộc nhóm dẫn đầu của Trung Quốc. Khoa là đơn vị tiên phong triển khai hàng chục kỹ thuật phẫu thuật và kỹ thuật mới lần đầu ở cấp quốc gia, cấp tỉnh và thành phố Thanh Đảo. Đặc biệt, với sự phát triển của phẫu thuật xâm lấn tối thiểu bao trùm các lĩnh vực điều trị ngoại khoa khác nhau như bệnh mạch vành, bệnh tim bẩm sinh phức tạp, bệnh van tim mắc phải và bệnh mạch máu lớn, trình độ kỹ thuật ngày càng tinh thông, số lượng phẫu thuật ngày càng tăng. Khoa giữ vị thế dẫn đầu trong tỉnh Sơn Đông về điều trị ngoại khoa các bệnh tim mạch phức tạp, đã vươn vào nhóm tiên tiến trên toàn quốc, và phẫu thuật xâm lấn tối thiểu của khoa có ảnh hưởng nổi bật trên toàn quốc.
II. Đội ngũ nhân sự
Khoa thực hiện chế độ lựa chọn hai chiều, luân chuyển nhân tài, tuyển dụng toàn bộ nhân viên và chế độ trách nhiệm theo mục tiêu từng vị trí. Hiện khoa có 149 cán bộ y tế và điều dưỡng, trong đó có 5 giáo sư, 6 phó giáo sư, 10 người có chức danh chuyên môn trung cấp, 7 người có bằng tiến sĩ và 10 người có bằng thạc sĩ; 4 kỹ thuật viên tim phổi nhân tạo toàn thời gian; 5 bác sĩ hồi sức tích cực; 144 điều dưỡng, trong đó 55 điều dưỡng chăm sóc tích cực, 65% có bằng cử nhân, 20 điều dưỡng trưởng.
Bác sĩ cao cấp: 杨苏民 (Yang Sumin), 张平 (Zhang Ping), 常青 (Chang Qing)
Bác sĩ cao cấp phó: 高洪波 (Gao Hongbo), 李贞福 (Li Zhenfu), 江磊 (Jiang Lei), 王士忠 (Wang Shizhong), 王福和 (Wang Fuhe), 涂寒剑 (Tu Hanjian)
Bác sĩ chính: 郝传吉 (Hao Chuanji), 潘玉柱 (Pan Yuzhu), 王伟 (Wang Wei), 刘国栋 (Liu Guodong), 刘旭 (Liu Xu), 于仁斌 (Yu Renbin), 吴玉辉 (Wu Yuhui), 王涛 (Wang Tao), 杨林山 (Yang Linshan), 林冠军 (Lin Guanjun)
Điều dưỡng trưởng: 程华伟 (Cheng Huawei), 李欣晖 (Li Xinhui), 王艳丽 (Wang Yanli), 曲巍立 (Qu Weili), 予宁宁 (Yu Ningning), 王宁 (Wang Ning), 吴淑芳 (Wu Shufang), 张景侠 (Zhang Jingxia), 王坤 (Wang Kun), 纪晓婷 (Ji Xiaoting), 陆岩 (Lu Yan), 尚全伟 (Shang Quanwei), 王志鹏 (Wang Zhipeng) và những người khác
III. Đặc điểm chuyên môn
(1) Phẫu thuật tim xâm lấn tối thiểu
Khoa Ngoại tim mạch đã hoàn toàn bước vào thời đại phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, lần lượt triển khai các kỹ thuật phẫu thuật xâm lấn tối thiểu qua đường mổ nhỏ, soi ngực và robot da Vinci. Năm 2015, số ca mổ tim bằng robot da Vinci xếp thứ 2 toàn quốc; số ca thay van hai lá bằng robot da Vinci xếp thứ 1 toàn quốc; năm 2016, số ca mổ bằng robot da Vinci xếp thứ 1 toàn quốc. Năm 2015 và 2016, số ca mổ bóc tàng động mạch chủ và phình động mạch chủ đứng thứ nhất tỉnh Sơn Đông hai năm liên tiếp. Khoa đã lần lượt triển khai nhiều kỹ thuật mới, chẳng hạn: mổ bắc cầu động mạch vành bằng kỹ thuật khâu chỉ liên tục dạng trượt dưới robot da Vinci (hiện chỉ có ba người trên thế giới nắm vững kỹ thuật này); ca mổ bắc cầu động mạch vành dưới robot da Vinci kết hợp cắt phình thành thất đầu tiên trên thế giới; mổ thay van bằng robot cho bệnh nhân viêm nội tâm mạch nhiễm trùng ở tuổi cao (81 tuổi, là độ tuổi cao nhất được ghi nhận cho loại mổ này cho đến nay); thay van hai lá qua đường mổ nhỏ ngực phải, tạo hình van ba lá, thay hai van tim, thay van xâm lấn tối thiểu ở ca mổ lại; mổ Bentall qua đường mổ nhỏ phần trên xương ức; mổ bắc cầu động mạch vành qua đường mổ nhỏ trước ngoài ngực trái; điều trị ngoại khoa thuyên tắc phổi mạn tính, rách vách liên thất sau nhồi máu cơ tim cấp và các bệnh khác; cùng các kỹ thuật mới như mổ tim không truyền máu, tim phổi nhân tạo với nồng độ hemoglobin cao, tách tiểu cầu trước mổ, thu hồi máu, lấp đầy nhiều khoảng trống kỹ thuật trong tỉnh Sơn Đông.
(2) Hồi sức tích cực bệnh tim và giai đoạn quanh phẫu thuật
Khoa hồi sức tích cực của Khoa Ngoại tim mạch tiếp tục tăng cường tính chuyên môn hóa. Ngoài việc theo dõi và điều trị các bệnh nhân mổ tim mạch thường quy, khoa còn triển khai điều trị các thể suy tim giai đoạn cuối, bao gồm lọc máu liên tục tại giường (CRRT), bơm bóng ngược dòng trong động mạch chủ (IABP), oxy hóa máu ngoài cơ thể bằng màng (ECMO) và điều trị hỗ trợ các cơ quan.
(3) Ghép tim
Năm 2016, khoa đã thành công 6 ca ghép tim ở người lớn, lấp đầy khoảng trống ghép tim của thành phố Thanh Đảo. Khoa triển khai mô hình điều trị ghép tim lấy người cho làm trung tâm, chuyển người nhận đến lấy tim, rút ngắn đáng kể thời gian thiếu máu cơ tim lạnh do vận chuyển tim người cho, phục hồi sớm sau mổ nhanh, hiệu quả rõ rệt. Đồng thời khoa đưa vào kỹ thuật và tư tưởng hồi phục tăng cường sau phẫu thuật, xây dựng quy trình gây mê đường nhanh trong mổ tim mạch, rút ống nội khí quản sớm sau mổ, vận động sớm, rút ngắn thời gian nằm viện sau mổ và giảm chi phí điều trị.
(4) Điều trị ngoại khoa và can thiệp bệnh tim bẩm sinh
Năm 2005, khoa là đơn vị đầu tiên trong tỉnh thành công mổ chuyển gốc động mạch (phẫu thuật Switch) điều trị bệnh chuyển gốc động mạch chủ hoàn toàn, kết quả phẫu thuật lý tưởng. Bệnh nhi nhỏ nhất mới được 4 ngày tuổi, là ca mổ tim hở dưới tim phổi nhân tạo thành công ở độ tuổi nhỏ nhất tại Thanh Đảo. Khoa thường quy điều trị ngoại khoa các bệnh tim bẩm sinh, đạt tỷ lệ sửa giải cao, tỷ lệ tử vong thấp với các dị tật phức tạp như tứ chứng Fallot, hai mạch lớn đổ về thất phải và thất trái, chuyển gốc động mạch chủ, thân chung động mạch, hẹp hoặc khuyết van động mạch phổi, khuyết van ba lá, khuyết đệm nội tâm mạch hoàn toàn, trả tĩnh mạch phổi hoàn toàn bất thường, dị tật Taussig-Bing và hội chứng Ebstein, đạt trình độ tiên tiến toàn quốc. Hiện nay khoa thường quy điều trị can thiệp bịt các bệnh tim bẩm sinh như còn ống động mạch, thông nhĩ thất, thông thất thất, hẹp van động mạch phổi, bệnh nhân ít sang chấn, hồi phục nhanh.
(5) Điều trị ngoại khoa và can thiệp bệnh mạch máu lớn
Phình động mạch chủ ngực và phình tách động mạch chủ là các bệnh cấp tính nguy hiểm, có thể khiến bệnh nhân tử vong trong thời gian ngắn. Do phẫu thuật phức tạp, tỷ lệ tử vong cao, luôn là công việc đầy thử thách trong ngoại khoa tim và mạch máu lớn. Những năm gần đây, khoa đã đạt bước tiến đột phá trong chẩn đoán và phẫu thuật các bệnh này, là đơn vị đầu tiên trong tỉnh thực hiện thay cung động mạch chủ với ngừng tuần hoàn hạ thân nhiệt sâu, tưới máu chọn lọc động mạch dưới đòn phải để bảo vệ não; thường quy thay gốc động mạch chủ và cung động mạch chủ — nửa cung và toàn cung — bằng mạch máu nhân tạo, đạt trình độ tiên tiến toàn quốc. Năm 2003, khoa là đơn vị đầu tiên tại Thanh Đảo thực hiện nội mạch đặt ống lồng phủ (stent-graft) điều trị bóc tàng động mạch chủ và phình động mạch chủ ngực; hiện thường quy điều trị kết hợp (hybrid) bóc tàng động mạch chủ, giảm thiểu rủi ro mổ và biến chứng. Hiện kỹ thuật can thiệp mạch máu lớn của khoa đứng đầu tỉnh Sơn Đông cả về số lượng ca và trình độ kỹ thuật, đạt trình độ tiên tiến toàn quốc.
(6) Điều trị ngoại khoa bệnh van tim
Là chuyên khoa đặc sắc điều trị bệnh van tim tại Thanh Đảo, ngoại khoa van tim của khoa có tiềm lực kỹ thuật vững mạnh, tích lũy kinh nghiệm phong phú trong điều trị mọi bệnh van tim lâm sàng, bao gồm thay một van, hai van và ba van. Khoa là đơn vị đầu tiên cả nước thực hiện ghép tự thân động mạch phổi điều trị hở van động mạch chủ (phẫu thuật Ross) và thay gốc động mạch chủ giữ van động mạch chủ (phẫu thuật David), các kết quả gần và xa của các kỹ thuật tạo hình vòng van và tạo van đều khả quan, khoa đã trở thành trung tâm điều trị bệnh van tim miền Đông tỉnh Sơn Đông.
(7) Điều trị ngoại khoa bệnh mạch vành
Là một trong những đơn vị thực hiện mổ bắc cầu động mạch vành tương đối sớm ở Trung Quốc, các kỹ thuật bắc cầu động mạch vành, bắc cầu động mạch vành xâm lấn tối thiểu không dùng tim phổi nhân tạo, bắc cầu toàn động mạch của khoa đạt trình độ tiên tiến toàn quốc. Hiện mỗi năm mổ bắc cầu trên 200 ca, số lượng đứng đầu tỉnh; tỷ lệ tử vong dưới 1%, đã đạt trên 200 ca bắc cầu liên tiếp không có ca tử vong nào, trình độ dẫn đầu tỉnh. Năm 2000, khoa thực hiện ca mổ bắc cầu động mạch vành kết hợp giảm thể tích thất trái đầu tiên cả nước điều trị bệnh cơ tim thiếu máu. Năm 2001, thực hiện ca mổ bắc cầu động mạch vành kết hợp cắt phình thành thất và tạo hình hình học thất trái đầu tiên cả nước, chủ động tìm kiếm phương pháp ngoại khoa điều trị bệnh tim giai đoạn cuối ngoài ghép tim. Những năm gần đây, mổ bắc cầu động mạch vành không dùng tim phổi nhân tạo đồng thời triệt đốt tần số vô tuyến lưỡng cực điều trị bệnh mạch vành kèm rung nhĩ đã lấp đầy khoảng trống trong tỉnh, trình độ dẫn đầu toàn quốc.
(8) Triệt đốt tần số vô tuyến
Hiện khoa thường quy thực hiện phẫu thuật Maze cải biến bằng triệt đốt tần số vô tuyến điều trị rung nhĩ, là một trong những đơn vị thực hiện kỹ thuật này sớm nhất cả nước, triệt đốt rung nhĩ bằng tần số vô tuyến cùng lúc với mổ tim. Đã thực hiện hơn 1.000 ca, kết quả khả quan, đạt trình độ tiên tiến toàn quốc. Những năm gần đây triển khai mổ rung nhĩ đơn thuần xâm lấn tối thiểu (mini-Maze), giải tỏa nỗi đau của rất nhiều bệnh nhân bị rung nhĩ hành hạ.
IV. Kỹ thuật y tế
Hiện mỗi năm thực hiện hơn 1.300 ca phẫu thuật, trong đó các ca nguy kịch, phức tạp và bệnh nhân cao tuổi chiếm trên 40%, tỷ lệ tử vong do phẫu thuật dưới 2%, thuộc nhóm dẫn đầu của Trung Quốc. Khoa là đơn vị tiên phong triển khai hàng chục kỹ thuật phẫu thuật và kỹ thuật mới lần đầu ở cấp quốc gia, cấp tỉnh và thành phố Thanh Đảo. Đặc biệt, với sự phát triển của phẫu thuật xâm lấn tối thiểu bao trùm các lĩnh vực điều trị ngoại khoa khác nhau như bệnh mạch vành, bệnh tim bẩm sinh phức tạp, bệnh van tim mắc phải và bệnh mạch máu lớn, trình độ kỹ thuật ngày càng tinh thông, số lượng phẫu thuật ngày càng tăng. Khoa giữ vị thế dẫn đầu trong tỉnh Sơn Đông về điều trị ngoại khoa các bệnh tim mạch phức tạp, đã vươn vào nhóm tiên tiến trên toàn quốc, và phẫu thuật xâm lấn tối thiểu của khoa có ảnh hưởng nổi bật trên toàn quốc.
V. Nghiên cứu khoa học và đào tạo
Hiện khoa đang thực hiện hơn 10 đề tài nghiên cứu, kinh phí nghiên cứu hàng trăm nghìn nhân dân tệ, trong đó có 1 đề tài Quỹ Khoa học tự nhiên tỉnh Sơn Đông, 2 đề tài Sở Y tế tỉnh, 5 đề tài Cục Khoa học – Công nghệ thành phố, 1 dự án đấu thầu lớn của bệnh viện, 1 dự án hợp tác ngang trong nước. Khoa đạt Giải nhì thành quả khoa học công nghệ của Ủy ban Giáo dục tỉnh Sơn Đông và Giải nhất tiến bộ khoa học kỹ thuật của Đại học Thanh Đảo. Đã công bố hơn 100 bài báo trên tạp chí lõi của Trung Quốc, trong đó 20 bài được SCI thu nhận, chủ biên dịch tác phẩm Minimally Invasive Cardiac Surgery, tham gia biên soạn bốn chuyên khảo như Practical Thoracic Surgical Operative Surgery, Cardiac Surgical Operative Techniques, Cardiac Surgery Operative Science và Cardiac Surgery.
Khoa đảm nhận giảng dạy ngoại tim mạch cho sinh viên đại học cùng công tác học tập thực hành lâm sàng và thực tập. Mỗi năm đào tạo 2-4 nghiên cứu sinh, tăng cường đào tạo bác sĩ nội trú theo "ba căn bản, ba nghiêm khắc", quản lý nghiêm ngặt, tăng cường giáo dục đạo đức nghề nghiệp, tăng cường rèn luyện năng lực nghiên cứu, nâng cao trình độ ngoại ngữ của bác sĩ nội trú, hoàn thiện thêm chế độ đào tạo bác sĩ chuyên khoa ngoại tim mạch, hằng tháng có bài giảng, định kỳ đánh giá. Thường xuyên cử bác sĩ trẻ đến Bệnh viện Fuwai Bắc Kinh, Bệnh viện Anzhen và Khoa ngoại tim ngực Trung tâm Y khoa Nhi đồng Thượng Hải học tập kỹ thuật ngoại tim.
Khoa Ngoại tim mạch tích cực tăng cường giao lưu học thuật trong và ngoài nước, đã thiết lập quan hệ hợp tác tốt đẹp với các trung tâm tim nổi tiếng như Bệnh viện Hoàng tử Charles của Úc, Bệnh viện Adelaide của Nam Úc, Bệnh viện Methodist thuộc Trung tâm Y khoa Texas ở Houston của Hoa Kỳ, Bệnh viện Bang New York của Hoa Kỳ, Đại học Yonsei của Hàn Quốc, Trung tâm Tim Berlin của Đức, Bệnh viện trực thuộc Đại học Y khoa Phụ nữ Tokyo của Nhật Bản, Bệnh viện Fuwai Bắc Kinh, Bệnh viện Anzhen, Bệnh viện Tim mạch Quảng Châu, định kỳ mời chuyên gia trong và ngoài nước đến giao lưu. Đồng thời nhiều đợt cử nhân viên y tế đến các trung tâm tim lớn trong và ngoài nước tu nghiệp, từng bước xây dựng hợp tác quốc tế giữa các khoa.
VI. Hướng dẫn khám chữa bệnh
(1) Vị trí khoa
Khu khám bệnh cơ sở Sư Nam: tầng 6, tòa nhà khám bệnh, số 16 đường Giang Tô
Khu nội trú cơ sở Sư Nam: tầng 3 (khu A) và tầng 6 (khu B), tòa nội trú thứ hai, số 16 đường Giang Tô
Khu nội trú cơ sở Tây Hải: tầng 11, tòa nhà A, tòa nội trú, số 1667 đường Ngũ Đài Sơn
(2) Điện thoại tư vấn
Khu khám bệnh cơ sở Sư Nam: 0532-82911206
Khu nội trú cơ sở Sư Nam: 0532-82911011 (khu A), 0532-82912613 (khu B)
Khu nội trú cơ sở Tây Hải: 0532-82919519
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn
Bác sĩ
Hồ sơ bác sĩ: 7
刘旭
Bác sĩ ở ngạch phó chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành: bắc cầu động mạch vành không dùng tuần hoàn ngoài cơ thể qua đường giữa và bắc cầu ít xâm lấn qua đường rạch nhỏ; tạo hình và thay van tim; phẫu thuật mạch máu lớn; điều trị phẫu thuật rung nhĩ; phẫu thuật tim mạch ít xâm lấn.
常青
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)