Tim mạch
1、Tổng quan về chuyên ngành
Khoa Tim mạch, Bệnh viện trực thuộc Đại học Thanh Đảo, tiền thân là Nhóm chuyên môn Tim mạch thuộc Khoa Nội. Năm 1960, khoa được thành lập bởi bác sĩ Dương Đức Hạo, chuyên gia nội khoa nổi tiếng, với 25 giường bệnh. Năm 1978, Giáo sư Chu Chấn, chuyên gia nổi tiếng trong nước về bệnh tim mạch, kiêm nhiệm trưởng nhóm; khoa có 6 phòng kiểm tra: Phòng Điện tâm đồ được thành lập năm 1952, bắt đầu tiến hành nghiệm pháp gắng sức hai bậc thang kép vào năm 1955; tiến hành nghiệm pháp atropine và propranolol từ năm 1952; tiến hành nghiệm pháp xe đạp lực kế vào năm 1986. Phòng Thông tim được Phó Giáo sư Chu Chấn và bác sĩ điều trị Trần Hậu Hiệp thành lập năm 1979, triển khai kiểm tra bằng ống thông đối với bệnh tim mạch, đạt trình độ dẫn đầu trong tỉnh vào thời điểm đó. Phòng Siêu âm tim đưa vào sử dụng máy chẩn đoán siêu âm M tim vào năm 1979. Phòng Theo dõi điện tim được sử dụng để theo dõi và điều trị bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp và rối loạn nhịp tim nặng. Phòng Phản xung ngoài cơ thể được sử dụng để điều trị đau thắt ngực do bệnh mạch vành và teo võng mạc. Phòng Phân tích phổ điện tim là một trong những đơn vị sớm triển khai khử rung bằng điện, chuyển nhịp bằng điện và kỹ thuật tạo nhịp tim tại Trung Quốc vào những năm 1970; thiết bị tạo nhịp tim nhanh loại 7711 do bác sĩ điều trị Chu Chấn nghiên cứu chế tạo thành công năm 1977 đã đoạt Giải thưởng Phát minh Y học Quốc tế Brussels năm 1979, thiết bị này được sử dụng trong cấp cứu lâm sàng bệnh nhân nguy kịch và đạt hiệu quả tốt.
Năm 1979, dưới sự phối hợp của bác sĩ điều trị Trương Chính Sinh và Mã Hoán Liệt thuộc Khoa Phẫu thuật Tim, Phó Giáo sư Chu Chấn, bác sĩ Trần Hậu Hiệp và bác sĩ Nhậm Quế Chi đã lần đầu tiên hoàn thành điều trị tạo nhịp thượng tâm mạc ngoài cơ thể bằng thiết bị di động cho bệnh nhân blốc nhĩ thất độ III; sau đó triển khai điều trị tạo nhịp nội tâm mạc, cứu sống nhiều bệnh nhân rối loạn nhịp chậm, đồng thời triển khai kỹ thuật tạo nhịp tim qua thực quản cho bệnh nhân suy chức năng nút xoang và kỹ thuật kiểm tra chức năng tim ở bệnh nhân mắc bệnh tim mạch.
Năm 1978, được Quốc vụ viện phê duyệt, Khoa Tim mạch trở thành một trong những đơn vị đầu tiên được cấp quyền đào tạo thạc sĩ và bắt đầu tuyển sinh học viên cao học. Năm 2010, khoa tiếp tục được phê duyệt là cơ sở cấp bằng tiến sĩ theo định hướng chuyên ngành lâm sàng, chuyên ngành lâm sàng trọng điểm của tỉnh Sơn Đông và chuyên ngành trọng điểm của thành phố Thanh Đảo; năm 2008, khoa được công nhận là một trong những cơ sở đào tạo đầu tiên của Bộ Y tế về can thiệp bệnh tim mạch. Vào những năm 1970 và 1980, Khoa Tim mạch Bệnh viện trực thuộc Đại học Thanh Đảo đã trở thành trung tâm y tế, giảng dạy và nghiên cứu của khu vực phía đông Sơn Đông; từ năm 2000, khoa đảm nhiệm công tác đào tạo bác sĩ nội trú theo quy định quốc gia và giáo dục y khoa liên tục, hiện đã hình thành một đơn vị tích hợp y tế, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, đào tạo bác sĩ nội trú và giáo dục y khoa liên tục, có uy tín cao trên toàn quốc. Nhờ nỗ lực không ngừng của nhiều thế hệ, Khoa Tim mạch đã đạt được sự phát triển vượt bậc về quy mô xây dựng, dịch vụ y tế, cơ cấu chuyên môn, trình độ học thuật, đào tạo nhân tài và trang thiết bị y tế, đồng thời đạt được những thành tựu đáng chú ý trong các lĩnh vực y tế, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, đào tạo bác sĩ nội trú và giáo dục y khoa liên tục.
2、Đội ngũ nhân lực
Khoa Tim mạch có lực lượng kỹ thuật hùng hậu, quy tụ nhiều nhân tài, đã hình thành một tập thể y tế, giảng dạy và nghiên cứu khoa học trình độ cao, với các chuyên ngành phụ đầy đủ, lấy đội ngũ cán bộ kỹ thuật trung niên và trẻ có trình độ cao làm nòng cốt, dưới sự dẫn dắt của các chuyên gia lão thành vừa có đức vừa có tài, nổi tiếng trong nước và trong tỉnh. Hiện khoa có 46 bác sĩ chuyên trách, trong đó 30 người có bằng tiến sĩ, 16 người có bằng thạc sĩ, tỷ lệ nhân viên có trình độ thạc sĩ trở lên đạt 100%; có 15 người mang chức danh cấp cao nhất và 8 người mang chức danh cấp cao. Khoa có 2 người hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ, 20 người hướng dẫn nghiên cứu sinh thạc sĩ, 1 thành viên ban biên tập Tạp chí Rối loạn Nhịp tim Trung Hoa, 4 thành viên ban biên tập thường trực hoặc ban biên tập của các tạp chí cốt lõi như Tạp chí Nghiên cứu Tim mạch Trung Quốc và Tạp chí Y học Phục hồi Tim mạch.
Các cán bộ học thuật nòng cốt của khoa lần lượt đảm nhiệm các chức vụ như ủy viên Phân hội Nội khoa thuộc Hội Y học Trung Hoa, ủy viên Phân hội Điện sinh lý và Tạo nhịp tim thuộc Hội Y học Trung Hoa, ủy viên Phân hội Bác sĩ Tim mạch thuộc Hiệp hội Bác sĩ Trung Quốc, ủy viên Hội Điện tim Trung Quốc và Hội Nhịp tim Trung Quốc, ủy viên thường trực Liên minh Rối loạn Nhịp tim Trung Quốc, ủy viên Nhóm Điện sinh lý và Tạo nhịp tim thuộc Hội Y học Trung Hoa, ủy viên Nhóm Điều trị Suy tim bằng Thiết bị (Nhóm CRT) thuộc Hội Y học Trung Hoa, cùng các chức vụ chủ nhiệm và phó chủ nhiệm tại Phân hội Bệnh Tim mạch thuộc Hội Y học tỉnh Sơn Đông, Phân hội Tim mạch Can thiệp thuộc Hội Y học tỉnh Sơn Đông, Ủy ban Chuyên môn Điện sinh lý và Tạo nhịp tim thuộc Hiệp hội Bác sĩ tỉnh Sơn Đông, Phân hội Phục hồi Tim mạch thuộc Hội Y học tỉnh Sơn Đông, Phân hội Tim mạch Can thiệp thuộc Hội Y học thành phố Thanh Đảo, Phân hội Điện sinh lý và Tạo nhịp tim thành phố Thanh Đảo, Phân hội Phục hồi Tim mạch thuộc Hội Y học thành phố Thanh Đảo. Đội ngũ nhân lực của khoa có cơ cấu hợp lý, các chuyên gia đầu ngành đang ở độ tuổi sung sức, do những người có chức danh cấp cao nhất, được công nhận trong lĩnh vực học thuật liên quan là có trình độ chuyên môn cao, thành tích nổi bật và năng lực dẫn dắt chuyên ngành hoàn thành các mục tiêu đề ra đảm nhiệm. Các chuyên ngành phụ gồm điện sinh lý và tạo nhịp tim, chẩn đoán và điều trị can thiệp bệnh mạch vành, tăng huyết áp và xơ cứng động mạch, suy tim và bệnh tim cấu trúc; người đứng đầu các chuyên ngành lần lượt là ủy viên các hội chuyên ngành hoặc nhóm chuyên môn cấp quốc gia, phó chủ nhiệm cấp tỉnh Sơn Đông, v.v.; năng lực tổng thể thuộc nhóm tiên tiến trong cả nước.
3、Đặc điểm chuyên môn
(1)Chuyên ngành Điện sinh lý và Tạo nhịp tim
Nhóm chuyên môn có nền tảng kỹ thuật và nghiên cứu khoa học vững mạnh, trong nhiều năm qua đã đạt được những tiến bộ vượt bậc về tạo nhịp tim và điện sinh lý. Điều trị tạo nhịp tim luôn đạt trình độ tiên tiến trong nước và dẫn đầu trong tỉnh; mỗi năm thực hiện hơn 350 ca ICD, CRT và điều trị tạo nhịp tim, tỷ lệ tạo nhịp sinh lý đạt 75%. Trong những năm gần đây, nhóm luôn tập trung nghiên cứu ứng dụng lâm sàng tạo nhịp sinh lý, triển khai nghiên cứu lâm sàng về tạo nhịp tại các vị trí chọn lọc, bao gồm tạo nhịp vách đường ra thất phải, tạo nhịp vách liên nhĩ, tạo nhịp nhĩ phải cao và tạo nhịp bó His. Trong dự phòng tiên phát và thứ phát rối loạn nhịp tim ác tính, ứng dụng lâm sàng máy chuyển nhịp khử rung cấy ghép (ICD) đạt trình độ dẫn đầu trong nước và tiên tiến trong nước; nhóm đã tích lũy kinh nghiệm lâm sàng phong phú trong phòng ngừa và điều trị đột tử do rối loạn nhịp tim, đặc biệt là đột tử do bệnh mạch vành. Mỗi năm tiến hành hơn 500 ca đốt điện bằng catheter bằng sóng cao tần để điều trị các loại rối loạn nhịp nhanh; trong những năm gần đây tích cực triển khai điều trị đốt điện rung nhĩ và rối loạn nhịp thất phức tạp, đạt hiệu quả rõ rệt. Những năm gần đây, nhóm tích cực nghiên cứu đặc điểm đồng bộ của tim trong suy tim mạn tính, đặc biệt là điều trị bằng thiết bị, trong đó có điều trị tái đồng bộ tim (CRT); mỗi năm tổ chức các chương trình giáo dục y khoa liên tục cấp tỉnh về ứng dụng lâm sàng tạo nhịp sinh lý, đột tử do tim và điều trị tái đồng bộ suy tim mạn tính, đạt thành tích nổi bật. Năm 2008, khoa được đưa vào danh sách những cơ sở đào tạo đầu tiên của Bộ Y tế về chẩn đoán và điều trị can thiệp rối loạn nhịp tim.
(2)Chẩn đoán và điều trị can thiệp bệnh mạch vành
Mỗi năm khoa tiếp nhận hơn 6.000 bệnh nhân mắc bệnh mạch vành, bao gồm điều trị can thiệp và điều trị bằng thuốc đối với đau thắt ngực không ổn định và nhồi máu cơ tim cấp. Từ năm 1991, khoa đã sớm triển khai kỹ thuật chẩn đoán và điều trị can thiệp bệnh mạch vành tại Trung Quốc; năm 1998, khoa đi đầu trong tỉnh triển khai điều trị can thiệp bệnh mạch vành qua đường động mạch quay (thủ thuật PCI), hiện nay đã trở thành kỹ thuật thường quy, tránh được các biến chứng liên quan đến nằm bất động trên giường. Mỗi năm thực hiện hơn 2.500 ca PCI, bao gồm các tổn thương phức tạp như tổn thương thân chung động mạch vành trái không được bảo vệ, tổn thương chỗ chia đôi, tổn thương tắc nghẽn hoàn toàn mạn tính, tổn thương vôi hóa nặng; đồng thời ứng dụng siêu âm nội mạch (IVUS) và kỹ thuật đo phân suất dự trữ lưu lượng động mạch vành (FFR) để tối ưu hóa chiến lược chẩn đoán và điều trị bệnh động mạch vành. Tỷ lệ thành công của phẫu thuật trên 98%, thời gian nằm viện trung bình 3,5 ngày, tỷ lệ theo dõi 95%, trình độ chẩn đoán và điều trị bệnh mạch vành thuộc nhóm tiên tiến trong nước. Trong nhiều năm, khoa luôn hỗ trợ và hướng dẫn các bệnh viện có đủ điều kiện ở khu vực lân cận triển khai kỹ thuật chụp động mạch vành và điều trị can thiệp, thúc đẩy việc phổ biến và phát triển kỹ thuật chẩn đoán và điều trị can thiệp bệnh mạch vành trong khu vực. Trong 10 năm qua, khoa đã tham gia nhiều thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm trong và ngoài nước về điều trị can thiệp bệnh mạch vành, đồng thời đảm nhiệm và hoàn thành nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp bộ. Chuyên ngành phụ này kiên trì mô hình phát triển kết hợp chặt chẽ giữa tim mạch tại giường bệnh, tim mạch phân tử và tim mạch can thiệp, vị thế chuyên ngành và uy tín xã hội ngày càng được nâng cao. Những năm gần đây, khoa phối hợp chặt chẽ với Khoa Nội Cấp cứu, phòng can thiệp và các khoa khác, lấy việc xây dựng Trung tâm Đau ngực làm nền tảng, mở đường dây xanh cấp cứu 24 giờ cho “nhồi máu cơ tim cấp”, cứu sống nhiều bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp và đạt được uy tín xã hội tốt. Hiện nay, khoa chủ yếu tiến hành nghiên cứu cơ bản liên quan đến cơ chế phát bệnh mạch vành và tái hẹp trong stent sau đặt stent động mạch vành. Hiện khoa đang đảm nhiệm 2 dự án của Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc và hơn 10 dự án nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, cấp bộ và cấp thành phố; đã công bố hơn 30 bài báo học thuật được SCI lập chỉ mục. Toàn thể nhân viên của chuyên ngành sẽ dùng y thuật tinh thông và y đức cao cả để hết lòng cung cấp cho đông đảo bệnh nhân bệnh mạch vành các dịch vụ y tế chất lượng cao về dự phòng, chăm sóc sức khỏe, phát hiện sớm, điều trị toàn diện và phục hồi mạch máu. Năm 2008, khoa được đưa vào danh sách những cơ sở đào tạo đầu tiên của Bộ Y tế về chẩn đoán và điều trị can thiệp bệnh mạch vành.
(3)Chuyên ngành Tăng huyết áp và Xơ cứng động mạch
Phòng thí nghiệm trọng điểm về tăng huyết áp thành phố Thanh Đảo được đặt tại Khoa Tim mạch Bệnh viện trực thuộc Đại học Thanh Đảo, cùng với Khoa Tim mạch tạo thành một chuyên khoa đặc thù tích hợp y tế, giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Chuyên ngành có đội ngũ y tế lâm sàng và nghiên cứu khoa học chất lượng cao; hiện đã xây dựng hệ thống dự phòng, chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp tích hợp giáo dục sức khỏe, tư vấn sức khỏe, khám ngoại trú, điều trị nội trú và theo dõi ngoại trú. Đặc điểm chuyên ngành: chuyên ngành có những thành tựu đặc biệt trong chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp kháng trị, tăng huyết áp dao động lớn, tăng huyết áp nặng và phức tạp, cũng như các loại tăng huyết áp thứ phát, được đông đảo bệnh nhân đánh giá cao.
(4)Chuyên ngành Suy tim và Bệnh tim cấu trúc
Bệnh tim cấu trúc nói chung chỉ một nhóm lớn các bệnh tim biểu hiện chủ yếu bằng những bất thường cấu trúc bẩm sinh hoặc mắc phải của tim và các mạch máu lớn, chẳng hạn như bệnh tim bẩm sinh, bệnh van tim và bệnh cơ tim theo định nghĩa truyền thống. Điều trị bệnh tim cấu trúc, đặc biệt là điều trị can thiệp, đã phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây. Khoa chúng tôi đã sớm triển khai thủ thuật bít tắc còn ống động mạch qua da từ năm 1991; năm 1992 triển khai tạo hình van hai lá và van động mạch phổi bằng bóng qua da; năm 2001 triển khai bít tắc can thiệp bệnh tim bẩm sinh và tạo hình van động mạch chủ bằng bóng; hiện nay mỗi năm thực hiện 80~120 ca bít tắc thông liên nhĩ, bít tắc thông liên thất và bít tắc còn ống động mạch.
Năm 2018, Khoa Tim mạch triển khai thủ thuật bít tắc tiểu nhĩ trái, nhằm cung cấp biện pháp dự phòng hiệu quả đột quỵ não cho những bệnh nhân rung nhĩ cần dùng thuốc chống đông nhưng không thể sử dụng thuốc chống đông. Năm 2019, khoa triển khai thay van động mạch chủ qua catheter (TAVR), cung cấp phương pháp điều trị ít xâm lấn cho bệnh nhân hẹp van động mạch chủ nặng.
Suy tim là giai đoạn cuối của quá trình tiến triển bệnh tim mạch, có tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tàn tật cao; những tiến bộ trong điều trị bằng thuốc diễn ra chậm, nhưng trong những năm gần đây, cùng với các nghiên cứu mới về thiết bị, các biện pháp điều trị hỗ trợ bằng thiết bị đã phát triển đáng kể, cải thiện triệu chứng và tiên lượng của bệnh nhân. Mỗi năm Khoa Tim mạch chẩn đoán và điều trị hàng nghìn bệnh nhân suy tim; thông qua tối ưu hóa điều trị bằng thuốc đã đạt được hiệu quả điều trị lý tưởng. Đối với bệnh nhân bệnh cơ tim phì đại, từ năm 1997 khoa đã triển khai điều trị đốt hóa học và tạo nhịp thất phải; đối với bệnh nhân bệnh cơ tim giãn và suy tim nặng giai đoạn cuối, khoa triển khai điều trị tái đồng bộ thất và cấy máy tự động chuyển nhịp khử rung, hiện mỗi năm cấy hơn 50 thiết bị CRTP, CRTD.
(5)Phục hồi tim mạch
Phục hồi tim mạch hướng đến các nhóm bệnh nhân tim mạch trong giai đoạn ổn định sau cơn nhồi máu cơ tim cấp, sau đặt stent động mạch vành, sau phẫu thuật bắc cầu động mạch vành hoặc các loại phẫu thuật tim khác, suy tim ổn định, bệnh cơ tim ổn định, cũng như tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng lipid máu; thông qua một loạt biện pháp như đánh giá phục hồi chức năng, liệu pháp vận động, liệu pháp dinh dưỡng, liệu pháp tâm lý, cải thiện lối sống, dùng thuốc đều đặn, theo dõi định kỳ các chỉ số và tiếp nhận hướng dẫn sức khỏe, tiến hành quan tâm toàn diện trong suốt quá trình, tập trung vào diễn biến triệu chứng của bệnh nhân sau phẫu thuật và sau khi xuất viện, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống, đưa bệnh nhân trở lại đời sống xã hội bình thường và phòng ngừa sự xuất hiện của bệnh tim mạch. Hiện nay, bệnh viện chúng tôi là đơn vị của Chủ nhiệm Phó Hội Phục hồi Tim mạch tỉnh Sơn Đông và đơn vị của Chủ nhiệm Hội Phục hồi Tim mạch thành phố Thanh Đảo; hiện đang từng bước hoàn thiện hệ thống phục hồi tim mạch, dẫn dắt quan niệm về phục hồi tim mạch, mỗi năm hoàn thành phục hồi tim mạch cho hơn 100 bệnh nhân.
4、Nghiên cứu khoa học và giảng dạy
Trong những năm gần đây, khoa đã đảm nhiệm 4 đề tài của Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc và hơn 20 dự án nghiên cứu khoa học do chính quyền địa phương các cấp tỉnh, thành phố cùng các cơ quan, doanh nghiệp và tổ chức sự nghiệp ủy thác; đạt hơn 10 giải thưởng nghiên cứu khoa học cấp tỉnh và thành phố; chủ biên, đồng chủ biên 10 cuốn sách. Trong những năm gần đây, khoa đã công bố tổng cộng hơn 200 bài báo học thuật trên các tạp chí học thuật công khai trong nước, trong đó hơn 80 bài được SCI, MED và ISTP lập chỉ mục; 3 đề tài sau thẩm định đạt trình độ tiên tiến quốc tế hoặc dẫn đầu trong nước. Kinh phí nghiên cứu khoa học có thể sử dụng vượt quá 5 triệu nhân dân tệ; khoa lần lượt thiết lập quan hệ hợp tác lâu dài và ổn định với các bệnh viện nổi tiếng ở Hoa Kỳ, Đức, Israel, Nhật Bản, Hàn Quốc và các quốc gia khác; hơn 10 lượt người đã ra nước ngoài du học, học tập và thăm quan, đồng thời phát huy vai trò tích cực trong sự phát triển của chuyên ngành.
Trong thực tiễn giảng dạy, khoa kiên trì phát triển và đổi mới. Dựa vào Trung tâm Giảng dạy Mô hình Quốc gia về Y học Cơ sở, khoa là đơn vị đầu tiên trong trường triển khai giảng dạy đa phương tiện và giảng dạy song ngữ, đạt hiệu quả rõ rệt. Nhờ những lợi thế to lớn của chuyên ngành lâm sàng trọng điểm cấp tỉnh, cơ sở đào tạo tiến sĩ và trạm lưu động sau tiến sĩ, khoa không ngừng phát triển và nỗ lực bền bỉ, đã đào tạo tổng cộng 2.500 sinh viên đại học, hơn 300 học viên thạc sĩ và 15 nghiên cứu sinh tiến sĩ. Khoa đã nhiều lần tổ chức các lớp giáo dục y khoa liên tục và các hội nghị học thuật, hoạt động giao lưu cấp quốc gia và cấp tỉnh. Khoa đạt 3 giải “Luận văn tốt nghiệp xuất sắc của Đại học Thanh Đảo”. Trong những năm gần đây, nhiều người lần lượt được bình chọn là “Giảng viên hướng dẫn nghiên cứu sinh xuất sắc của Đại học Thanh Đảo”, “Giảng viên xuất sắc của Đại học Thanh Đảo”, v.v.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn
Bác sĩ
Hồ sơ bác sĩ: 22
于海初
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Chẩn đoán và điều trị bệnh tim mạch, tăng huyết áp, đặc biệt chẩn đoán và điều trị can thiệp bệnh mạch vành; cấp cứu suy tim cấp và mạn do nhiều nguyên nhân, rối loạn nhịp nguy hiểm và hồi sức tim phổi não.
傅增泮
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Chẩn đoán, phòng ngừa và điều trị tăng huyết áp, bệnh mạch vành, suy tim, rối loạn nhịp tim và bệnh tâm lý.
刘松
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Điều trị nội khoa và can thiệp bệnh mạch vành