Chẩn đoán hình ảnh
Khoa Chẩn đoán hình ảnh của Bệnh viện trực thuộc số 1, Đại học Y khoa Đại Liên được thành lập năm 1948. Khoa không ngừng phát triển cùng với sự phát triển nhanh chóng của y học hiện đại, máy tính, công nghệ hình ảnh và các lĩnh vực khác; bao gồm ba bộ phận: chẩn đoán hình ảnh, điều trị can thiệp và thăm dò hình ảnh tim mạch. Các bộ phận có sự phân công rõ ràng, đồng thời phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau. Hiện nay, khoa đã trở thành một khoa lâm sàng nền tảng quan trọng, đại diện cho đẳng cấp của bệnh viện và trình độ chăm sóc y tế. Khoa được công nhận là Chuyên khoa lâm sàng trọng điểm của tỉnh Liêu Ninh, Chuyên ngành trọng điểm của thành phố Đại Liên, Chuyên ngành trọng điểm của Đại học Y khoa Đại Liên, Trung tâm Kiểm soát chất lượng chẩn đoán hình ảnh Đại Liên, Trung tâm Kiểm soát chất lượng điều trị can thiệp Đại Liên, Cơ sở phổ biến và đào tạo điều trị can thiệp của Hội Y học Trung Quốc, Cơ sở đào tạo chẩn đoán và điều trị can thiệp mạch ngoại biên của Ủy ban Y tế và Kế hoạch hóa gia đình Quốc gia, Liên minh Tế bào bàn chân đái tháo đường và Công nghệ điều trị can thiệp Trung Quốc, và đơn vị thành viên của Asian Society of Cardiovascular Imaging.
(1) Trang thiết bị của khoa Trong thời kỳ Kế hoạch 5 năm lần thứ 13, bệnh viện đã lần lượt đầu tư gần 100 triệu RMB cho xây dựng cơ sở hạ tầng của khoa cũng như đưa vào và đổi mới trang thiết bị, bao gồm MRI 3,0 T và các hệ thống MSCT cao cấp như CT phổ, CT hai nguồn Force và Revolution CT. Nhờ đó, trình độ trang thiết bị hình ảnh của khoa chúng tôi luôn ở vị trí hàng đầu Trung Quốc.
(2) Cơ cấu nhân sự của khoa Chuyên ngành này có một đội ngũ y tế-kỹ thuật hùng hậu, chất lượng cao và có cơ cấu cấp bậc hợp lý, trong đó lực lượng chủ yếu là các bác sĩ có bằng tiến sĩ và thạc sĩ. Hiện khoa có 38 bác sĩ chẩn đoán hình ảnh trong biên chế, tuổi trung bình 39; trong đó có 7 giáo sư và 13 phó giáo sư, tỷ lệ người có chức danh chuyên môn cao cấp là 52,6%. Trong số này có 2 người hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ và 6 người hướng dẫn nghiên cứu sinh thạc sĩ. Cơ cấu học vấn hợp lý, tỷ lệ người có bằng sau đại học đạt 95%, gồm 8 tiến sĩ và 28 thạc sĩ. Bác sĩ điều trị can thiệp: hiện có 16 bác sĩ, tuổi trung bình 36, gồm 2 giáo sư, 5 phó giáo sư, 3 bác sĩ điều trị và 6 bác sĩ; tất cả đều có bằng thạc sĩ trở lên. Nhóm kỹ thuật hình ảnh có 48 người, trong đó 8 người có chức danh phó giáo sư cao cấp trở lên (17%) và 4 người có bằng thạc sĩ; tuổi trung bình 40, tỷ lệ người có chức danh chuyên môn cao cấp dưới 50 tuổi là 10,4%, có 3 người hướng dẫn nghiên cứu sinh thạc sĩ. Đội ngũ điều dưỡng chẩn đoán hình ảnh có 15 người, trong đó có 14 điều dưỡng phụ trách; đội ngũ điều dưỡng khoa can thiệp có 18 người, gồm 1 điều dưỡng trưởng phó, 5 điều dưỡng phụ trách và 12 điều dưỡng.
Theo nhu cầu của công tác y tế và sự phát triển của chuyên ngành, Khoa Chẩn đoán hình ảnh được chia thành 7 hướng chuyên khoa phụ: Nhóm Hình ảnh bụng, Nhóm Hình ảnh thần kinh-đầu và cổ, Nhóm Hình ảnh tim-ngực (vú), Nhóm Hình ảnh cơ xương, Nhóm Kỹ thuật hình ảnh, Nhóm Phát triển dữ liệu lớn và trí tuệ, và Nhóm Điều trị can thiệp (can thiệp thần kinh, can thiệp mạch ngoại biên, can thiệp khối u). Mỗi nhóm chuyên khoa phụ có người đứng đầu học thuật và cơ cấu nhân lực riêng. Tất cả người đứng đầu các chuyên khoa phụ đều là những cán bộ nòng cốt trong ngành. Có 12 người trong khoa giữ chức phó chủ nhiệm, ủy viên thường vụ hoặc ủy viên tại các hội chuyên môn và nhóm học thuật cấp quốc gia, cấp tỉnh; khoa có ảnh hưởng nhất định trong giới học thuật toàn quốc. Mỗi nhóm gồm 3–5 bác sĩ hoặc kỹ thuật viên trung cấp và trẻ, phụ trách công việc y tế cụ thể và triển khai các dự án nghiên cứu. Mỗi chuyên khoa phụ có hướng nghiên cứu rõ ràng, tương đối ổn định và nắm bắt những xu hướng, tiến triển học thuật tiên tiến nhất trong lĩnh vực của mình.
(3) Công tác lâm sàng và triển khai kỹ thuật mới Hằng năm khoa đảm nhiệm khối lượng lớn công việc kiểm tra và chẩn đoán hình ảnh, trung bình hoàn thành trên 600.000 lượt kiểm tra mỗi năm. Để bảo đảm người bệnh được chẩn đoán và điều trị sớm nhất, đồng thời rút ngắn thời gian nằm viện trung bình, toàn thể nhân viên khoa không phân biệt ngày lễ và cuối tuần đều làm việc. Khoa áp dụng làm thêm giờ, giờ làm việc linh hoạt và tăng thêm vị trí ở các khâu nhằm bảo đảm khai thác tối đa thiết bị. MR là bộ phận tăng trưởng rõ rệt nhất; thứ bảy làm thêm giờ theo lịch, chủ nhật làm thêm giờ linh hoạt. Số lượng báo cáo CT và MR ngày càng tăng, tạo áp lực công việc rất lớn cho các giáo sư ký duyệt. Khoa đã điều chỉnh phân công giữa các bác sĩ ký báo cáo, cố gắng giảm áp lực ký trung bình của mỗi giáo sư và đẩy nhanh tốc độ phát hành báo cáo.
Dựa vào trang thiết bị tiên tiến và đội ngũ nhân lực hùng hậu, khoa đã đi đầu triển khai nhiều kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh tiên tiến trong nước, đạt kết quả nổi bật và phổ biến vào lâm sàng. Khoa đi đầu trong nước về nghiên cứu ung thư phổi nhỏ, ung thư gan nhỏ, hình ảnh chức năng não, thuyên tắc phổi và CT mạch máu, từng nhận Giải thưởng Tiến bộ khoa học và công nghệ hạng hai, hạng ba của Chính quyền tỉnh Liêu Ninh và Giải thưởng Tiến bộ khoa học và công nghệ của Ủy ban Giáo dục tỉnh. Những năm gần đây, khoa đạt được một số thành tựu trong chụp phổ CT hai năng lượng, hình ảnh chức năng MR, định vị sinh thiết các nốt cực nhỏ ở phổi và các lĩnh vực khác:
① Kỹ thuật chụp phổ CT hai năng lượng: Kể từ khi đưa CT phổ Gemstone cao cấp vào sử dụng năm 2011, khoa đã tích cực triển khai công tác lâm sàng và nghiên cứu liên quan, lấp đầy nhiều khoảng trống nghiên cứu trong lĩnh vực này. Khoa đã xuất bản Atlas Ứng dụng lâm sàng CT phổ đầu tiên trên thế giới, đồng thời nhận Giải thưởng Thiết kế đóng sách lần thứ nhất của Quân Giải phóng Nhân dân và Giải nhất Tác phẩm khoa học thành phố Đại Liên năm 2015. Nghiên cứu liên quan được Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc tài trợ; kết quả nghiên cứu nhận Giải thưởng Y học Liêu Ninh lần thứ nhất năm 2015 (Giải thưởng Ứng dụng lâm sàng) và Giải ba Tiến bộ khoa học và công nghệ thành phố Đại Liên năm 2016. Khoa đã công bố hơn 50 bài báo liên quan đến CT phổ trên các tạp chí nòng cốt tiếng Trung, trong đó 7 bài được SCI lập chỉ mục. Từ năm 2012, mỗi năm có nhiều tóm tắt bài báo liên quan đến CT phổ của khoa được chấp nhận tại Hội nghị thường niên của Radiological Society of North America (RSNA); số lượng bài được chấp nhận liên tục 4 năm nằm trong nhóm các đội ngũ hàng đầu Trung Quốc. Dựa trên công nghệ CT phổ, khoa đã đào tạo 21 học viên cao học thạc sĩ, bao gồm lưu học sinh, và liên tục 4 năm tổ chức thành công lớp đào tạo giáo dục thường xuyên duy nhất tại Trung Quốc lấy kỹ thuật chụp phổ CT làm trọng tâm. Nhờ thành tích xuất sắc trong ứng dụng lâm sàng CT phổ, khoa được trao danh hiệu Cơ sở đào tạo lâm sàng CT phổ Gemstone khu vực châu Á-Thái Bình Dương và Cơ sở lâm sàng và nghiên cứu Revolution CT cao cấp toàn cầu. Khoa đã có đóng góp không thể phai mờ cho việc phổ biến lâm sàng kỹ thuật chụp CT hai năng lượng, việc được các chuyên gia và đồng nghiệp chấp nhận, công nhận rộng rãi, cũng như việc đưa kỹ thuật này vào giáo trình chuyên môn.
② Ứng dụng lâm sàng kỹ thuật MR mới: Khoa luôn duy trì trình độ tiên tiến trong nước. Việc ứng dụng lâm sàng các phần mềm nghiên cứu, từ hình ảnh cấu trúc và chức năng MR, bao gồm hình ảnh chức năng não, MRS, PWI, DWI, DTI, DKI và SWI, đến MRA không dùng thuốc cản quang, bao gồm hình ảnh mạch não, động mạch thận và hệ tĩnh mạch cửa, đều đạt kết quả rất tốt. Đồng bộ với tiến triển trong và ngoài nước, khoa đã triển khai định lượng hàm lượng sắt não bằng MRI, nhận Giải ba Tiến bộ khoa học và công nghệ thành phố Đại Liên năm 2017, kiểm tra MR tim, MRI có thuốc cản quang tai trong và nghiên cứu định lượng chính xác khối u bằng MR. Kỹ thuật tạo hình mê đạo màng tai trong bằng cộng hưởng từ Gd-DTPA qua chọc thủng màng nhĩ nhận Giải nhì Ứng dụng kỹ thuật lâm sàng mới của bệnh viện năm 2015, phối hợp với Khoa Tai Mũi Họng, và hiện đã trở thành hạng mục thường quy trong chẩn đoán và điều trị của các chuyên gia Tai Mũi Họng tại bệnh viện chúng tôi. (2) Hình ảnh CT và MR trong ù tai theo nhịp đập cung cấp căn cứ xác đáng để phát hiện nguyên nhân ù tai theo nhịp đập trên lâm sàng và có thể hướng dẫn điều trị hiệu quả; kỹ thuật này nhận Giải ba Công nghệ mới của bệnh viện năm 2016.
③ Định vị tổn thương và sinh thiết kim nốt phổi trước phẫu thuật nội soi lồng ngực dưới hướng dẫn CT: Đây là kỹ thuật mới quan trọng được khoa triển khai trong 3 năm gần đây, mỗi năm hoàn thành gần 300 lượt. Ứng dụng lâm sàng kỹ thuật dẫn đường bằng dây dẫn có móc đối với nốt mờ kính khu trú ở phổi (fGGO) dưới hướng dẫn CT, phối hợp với Khoa Ngoại lồng ngực, nhận Giải nhất Công nghệ mới của bệnh viện năm 2012.
④ Chẩn đoán hình ảnh tim mạch (MRI): Khoa cũng là một trong những đơn vị sớm triển khai tại Trung Quốc việc sử dụng kỹ thuật MRI mới để đánh giá cấu trúc và chức năng cơ tim, chủ yếu tập trung vào bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ, bệnh cơ tim phì đại và độc tính của thuốc đối với cơ tim. Kỹ thuật CT chụp mạch vành nhận 1 Giải nhì Tiến bộ khoa học và công nghệ của Bộ Y tế; khoa đảm nhiệm 4 dự án của Ủy ban Khoa học và Công nghệ tỉnh Liêu Ninh và thành phố Đại Liên. Đồng thời, khoa đã đào tạo kỹ thuật CT chụp mạch vành cho hàng trăm nhân viên hình ảnh y học đến từ hàng trăm bệnh viện trong cả nước.
⑤ Chẩn đoán sớm ung thư vú và theo dõi điều trị toàn diện: Chuyên khoa phụ về vú kết hợp khám sờ, siêu âm vú, chụp X-quang tuyến vú và MRI vú, nhờ đó có thể phát hiện nhiều ung thư giai đoạn sớm không có triệu chứng lâm sàng hoặc có triệu chứng lâm sàng không điển hình. Thông qua định vị, chọc sinh thiết và các phương pháp khác, chẩn đoán được thực hiện kịp thời. Kế hoạch điều trị cá thể hóa được xây dựng theo tình trạng bệnh, đồng thời sử dụng phương tiện hình ảnh để theo dõi định kỳ sau điều trị theo hướng dẫn. Điều này đã nâng cao đáng kể hiệu quả điều trị và tỷ lệ sống, đạt trình độ tiên tiến trong nước.
⑥ Điều trị can thiệp: Khoa bắt đầu triển khai điều trị can thiệp từ đầu những năm 1990 và đã tiếp nhận điều trị hơn 10.000 bệnh nhân. Khoa có 40 giường và 2 nhóm điều trị, phát triển thành mô hình trong đó điều trị can thiệp các bệnh thần kinh, khối u, mạch máu và không phải mạch máu cùng tiến triển. Khoa đảm nhiệm hơn 50% số ca phẫu thuật can thiệp tại khu vực Nam Liêu Ninh. Trong điều trị bệnh mạch máu não, khoa đã hình thành ưu thế chuyên môn độc đáo và đứng đầu vùng Đông Bắc Trung Quốc cả về số lượng và chất lượng phẫu thuật. Bên cạnh công tác lâm sàng, khoa chú trọng đào tạo nhân lực và trao đổi học thuật, nhiều lần tổ chức các hội nghị học thuật toàn quốc có ảnh hưởng và các chương trình giáo dục y khoa liên tục cấp quốc gia. Khoa tích cực triển khai nghiên cứu, đảm nhiệm nhiều đề tài, bao gồm các đề tài trọng điểm của Kế hoạch 5 năm lần thứ 9, 10 và 11, nhận 1 Giải nhì của Hội Y học Trung Quốc, 1 Giải nhì và 1 Giải ba Tiến bộ khoa học và công nghệ của Chính quyền tỉnh Liêu Ninh, cùng 4 Giải thưởng Kỹ thuật y tế mới của thành phố Đại Liên.
(4) Công tác và thành quả nghiên cứu Khoa coi trọng xây dựng chuyên ngành và phát triển bền vững, coi trọng nghiên cứu khoa học và chuyển giao vào lâm sàng. Trong 10 năm gần đây, nhân viên toàn khoa đã chủ trì hoặc tham gia hoàn thành 47 dự án nghiên cứu ở các cấp, trong đó có 8 dự án được Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc tài trợ. Khoa nhận 1 Giải nhì của Hội Y học Trung Quốc và 8 giải tiến bộ khoa học và công nghệ cấp tỉnh, cấp thành phố. Ngoài ra, có 21 dự án kỹ thuật mới cấp thành phố được phê duyệt, trong đó 8 dự án đạt giải. Khoa đã công bố hơn 400 bài báo trên các tạp chí học thuật chuyên ngành trong nước như Chinese Journal of Radiology, trong đó có 52 bài SCI với nhân viên của khoa là tác giả thứ nhất hoặc tác giả liên hệ. Các thành viên của khoa là chủ biên hoặc đồng chủ biên của 7 giáo trình hình ảnh y học và hơn 20 công trình học thuật y khoa. Khoa nhiều lần tổ chức thành công các hội nghị học thuật và lớp giáo dục thường xuyên quốc tế, trong nước dưới nhiều hình thức, bao gồm 9 hội nghị và chương trình giáo dục thường xuyên cấp quốc gia, 8 hội nghị và lớp giáo dục thường xuyên cấp tỉnh. Để đào tạo bác sĩ trẻ, những năm gần đây khoa hằng năm cử bác sĩ ra nước ngoài đào tạo; đến nay có 10 người đã hoàn thành hoặc đang đào tạo ở nước ngoài. Khoa cũng khuyến khích bác sĩ trẻ tham dự các hội nghị học thuật chuyên ngành quan trọng trong và ngoài nước, bao gồm Hội nghị thường niên RSNA, Hội nghị thường niên của International Society for Magnetic Resonance in Medicine (ISMRM), Hội nghị thường niên Phân hội X quang của Hội Y học Trung Quốc. Từ năm 2012, số lượng bài gửi và bài được RSNA chấp nhận của khoa mỗi năm luôn ở vị trí hàng đầu trong nước; mỗi năm có khoảng 40 lượt người tham dự hội nghị học thuật hoặc chương trình giáo dục thường xuyên quốc tế và trong nước.
(5) Đào tạo bác sĩ nội trú theo tiêu chuẩn Năm 2009, Khoa Chẩn đoán hình ảnh đã vượt qua đánh giá chuyên khoa phụ của cơ sở đào tạo bác sĩ chuyên khoa. Đào tạo bác sĩ nội trú chẩn đoán hình ảnh theo tiêu chuẩn tuân thủ yêu cầu của quốc gia, nghiêm túc chấp hành các chế độ quản lý bác sĩ nội trú của bệnh viện, đồng thời từng bước hình thành hệ thống và mô hình quản lý mang đặc điểm riêng, có kế hoạch đào tạo tương đối hoàn chỉnh và chương trình luân khoa, đánh giá theo tiêu chuẩn. Khoa đã thành lập nhóm lãnh đạo đào tạo bác sĩ nội trú theo tiêu chuẩn, do trưởng Bộ phận Giảng dạy và Nghiên cứu Chẩn đoán hình ảnh là người phụ trách chung, trưởng các chuyên ngành cấp ba là người phụ trách, và thư ký đào tạo phụ trách công việc hằng ngày của bác sĩ nội trú. Bác sĩ từ cấp bác sĩ điều trị trở lên được bố trí làm người hướng dẫn bác sĩ nội trú; mỗi người hướng dẫn 1 bác sĩ nội trú. Qua đó bảo đảm bác sĩ nội trú nắm được kỹ năng lâm sàng cơ bản, chẩn đoán và xử trí các bệnh thường gặp tại phòng khám ngoại trú và khoa cấp cứu của khoa chẩn đoán hình ảnh, có năng lực nhất định về nghiên cứu lâm sàng, giao tiếp lâm sàng và phối hợp nghiên cứu, có thể đọc tài liệu chuyên môn bằng ngoại ngữ và đảm nhiệm hướng dẫn thực hành cho sinh viên đại học.
Bác sĩ nội trú chẩn đoán hình ảnh phải luân khoa định kỳ tại các nhóm chuyên khoa phụ, nắm vững tiêu chuẩn kiểm tra hình ảnh đối với các bệnh thường gặp và hoàn thành khối lượng nhiệm vụ y tế nhất định, bao gồm viết dự thảo ban đầu các báo cáo X-quang thường quy, CT và MRI. Đánh giá bao gồm kỳ thi kết thúc luân khoa theo tiêu chuẩn: đánh giá kỹ năng (50 điểm), thi lý thuyết (30 điểm) và đánh giá biểu hiện hằng ngày (20 điểm), gồm chuyên cần, thái độ làm việc và khối lượng công việc. Khoa tổ chức định kỳ cho bác sĩ nội trú các bài giảng kiến thức nghiệp vụ cơ bản, tiêu chuẩn viết báo cáo của từng hệ cơ quan và phân tích ca bệnh; bài giảng đọc và chép tài liệu tiếng Anh vào thứ năm; theo dõi ca bệnh của học viên sau đại học và các bài giảng tiếng Anh ngắn của bác sĩ bệnh viện vào thứ hai; phân tích ca chẩn đoán nhầm vào trưa thứ tư; theo dõi và thảo luận các ca được hội chẩn tại cuộc họp buổi sáng; đào tạo và đánh giá theo máy CT cùng các hoạt động khác. Hiện nay, nhiều bác sĩ nội trú đã công bố bài nghiên cứu trước khi tốt nghiệp; người nhiều nhất đã công bố 16 bài trong 3 năm gần đây. Trong 3 năm gần đây, cơ sở đào tạo của khoa đã tuyển và đào tạo 39 bác sĩ nội trú, tỷ lệ đạt yêu cầu của học viên tốt nghiệp là 100%. Các học viên đã tốt nghiệp trở thành lực lượng nòng cốt tại các bệnh viện lớn trên toàn Trung Quốc và nhận được đánh giá cao nhất trí từ các đơn vị tuyển dụng nhờ năng lực thực hành lâm sàng vững vàng.
(6) Công tác giảng dạy Bộ phận Giảng dạy và Nghiên cứu Chẩn đoán hình ảnh đảm nhiệm giảng dạy 5 cấp độ và hơn 10 môn học trong toàn trường, với số giờ giảng dạy trung bình hằng năm trên 1.500 giờ. Bộ phận rất coi trọng việc tổng kết công tác giảng dạy, khuyến khích giảng viên đăng ký các dự án giảng dạy, tổng kết thành quả giảng dạy, viết bài nghiên cứu giảng dạy và phấn đấu đạt giải thưởng giảng dạy. Trong 5 năm gần đây, bộ phận đã chủ trì 5 dự án giảng dạy cấp trường trở lên và nhận 2 giải thưởng giảng dạy cấp tỉnh; 2 người nhận danh hiệu Nhà giáo giỏi cấp bệnh viện; 2 người tham gia cuộc thi giảng dạy cấp bệnh viện hoặc cấp trường và đạt giải; 1 người được trao danh hiệu Giảng viên trưởng đào tạo kỹ năng lâm sàng.
Trong 10 năm gần đây, toàn khoa đã đào tạo gần 100 học viên sau đại học, trong đó có hơn 10 lưu học sinh. Trong thời gian học hoặc sau khi tốt nghiệp, học viên sau đại học ngành chẩn đoán hình ảnh đã công bố hơn 100 bài báo, trong đó có hơn 10 bài SCI. Khoa đã đào tạo 1 học viên cao học ưu tú. Mười hai học viên sau đại học được khoa tuyển chọn cử tham dự hội nghị học thuật quốc tế để giao lưu và báo cáo tại hội nghị.
Mục tiêu phát triển trong tương lai: Khoa Chẩn đoán hình ảnh sẽ tiếp tục hướng tới những nhu cầu lớn của quốc gia, đứng vững ở tuyến đầu của chuyên ngành và tuân theo tiêu chuẩn của các bệnh viện nghiên cứu xuất sắc quốc tế. Lấy các bệnh khó, cấp cứu và nặng làm trọng tâm, khoa sẽ tích cực phát triển và ứng dụng các kỹ thuật hình ảnh tiên tiến trong và ngoài nước, cung cấp cho người bệnh dịch vụ chẩn đoán và điều trị bằng hình ảnh thuận tiện, chính xác, thông minh và hiệu quả; triển khai nghiên cứu y học trình độ cao; hoàn thiện xây dựng các chuyên khoa phụ; xây dựng đội ngũ chẩn đoán hình ảnh và điều trị can thiệp hàng đầu trong nước, có danh tiếng quốc tế. Khoa sẽ kiên trì quan niệm quản lý y tế hiện đại, coi trọng đào tạo bác sĩ nội trú, xây dựng trung tâm công nghệ hình ảnh có phương thức quản lý tốt và liên tục đổi mới; phát triển y tế hình ảnh kỹ thuật số trình độ cao; xây dựng nền tảng hội chẩn từ xa thuận tiện và hiệu quả; thành lập liên minh chuyên khoa hình ảnh; và xây dựng chuyên khoa hình ảnh y học nổi tiếng trong cả nước.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn