Phẫu thuật đại trực tràng
Khoa Ngoại Đại trực tràng, Bệnh viện Đa khoa trực thuộc thứ nhất của Đại học Y khoa Đại Liên, trực thuộc Khoa Ngoại tổng hợp I và là chuyên ngành trọng điểm của tỉnh Liêu Ninh cũng như của bệnh viện. Khoa hiện có 40 giường bệnh và tiếp nhận gần 500 bệnh nhân u đại trực tràng mỗi năm. Khoa hiện có 14 bác sĩ, trong đó 12 người có bằng tiến sĩ và 6 người là tiến sĩ đã du học trở về. Dưới sự khởi xướng của Giáo sư Hu Xiang, chuyên gia nổi tiếng trong và ngoài nước về các khối u đường tiêu hóa, khoa đã triển khai hợp tác sâu rộng với các trung tâm y tế hàng đầu trên thế giới. Khoa đã lần lượt cử nhiều bác sĩ đến học tập tại Đại học Y khoa Tokyo, Trung tâm Ung thư Quốc gia Nhật Bản và các trung tâm khác, đồng thời thiết lập quan hệ hợp tác lâu dài, hữu nghị. Trong 3 năm gần đây, khoa đã hoàn thành hoặc đang triển khai 3 đề tài nghiên cứu khoa học cấp quốc gia, công bố 8 bài báo được SCI lập chỉ mục và hơn 10 bài báo trên các tạp chí cốt lõi của Trung Quốc. Mỗi năm, khoa tổ chức Hội nghị quốc tế “Diễn đàn Đỉnh cao về Khối u Đường tiêu hóa Trung-Nhật Trung Quốc (Đại Liên)”. Những hoạt động này đã nâng cao đáng kể vị thế học thuật của khoa trong và ngoài nước. Trong hoạt động đánh giá nhằm nhanh chóng nâng cao năng lực y tế mềm của thành phố Đại Liên, khoa đã đạt thành tích xuất sắc với tổng số điểm đứng đầu toàn thành phố và được công nhận là Cơ sở Chẩn đoán và Điều trị Khối u Đại trực tràng của thành phố Đại Liên. Trưởng khoa là Giáo sư Liu Ge, tiến sĩ du học Nhật Bản, người hướng dẫn học viên cao học; hiện là ủy viên toàn quốc của Ủy ban Ngoại khoa Đại trực tràng thuộc Hội Bác sĩ Trung Quốc và ủy viên thường trực của Ủy ban Ung thư Đại tràng thuộc Hội Chống ung thư tỉnh Liêu Ninh.
Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế nước ta, mức sống của người dân không ngừng được nâng cao, cơ cấu chế độ ăn uống cũng thay đổi căn bản. Theo đó, tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng tăng rõ rệt; mỗi năm thành phố chúng tôi có hơn 1.000 ca mắc mới. Là một chuyên ngành trọng điểm của thành phố Đại Liên, khoa đã đạt trình độ tiên tiến trong nước về kỹ thuật chẩn đoán và điều trị toàn diện khối u đại trực tràng, đồng thời có những ưu thế kỹ thuật sau:
1. Năm 1996, khoa là một trong những đơn vị đầu tiên trong nước triển khai phẫu thuật cắt bỏ triệt căn ung thư đoạn thấp trực tràng qua đường cùng cụt kết hợp đường bụng. Kỹ thuật này giúp giảm đáng kể tỷ lệ tái phát tại chỗ, với tỷ lệ sống thêm 5 năm đạt 80%, nhận được sự quan tâm cao của các chuyên gia trong nước. Giáo sư Hu Xiang từng được mời đến Bệnh viện Ung thư Bắc Kinh để trình diễn phẫu thuật kỹ thuật này. Đến nay, khoa đã hoàn thành hơn 600 ca và đang ở trình độ dẫn đầu trong nước.
2. Năm 2002, khoa là đơn vị đầu tiên trong tỉnh Liêu Ninh triển khai phẫu thuật cắt bỏ triệt căn ung thư đại trực tràng bằng nội soi ổ bụng. Trong 3 năm gần đây, khoa đã thực hiện hơn 500 ca, trong đó có các kỹ thuật mới như cắt bỏ triệt căn ung thư đại trực tràng bằng nội soi ổ bụng dưới dẫn đường 3D và cắt bỏ triệt căn ung thư trực tràng bảo tồn thần kinh tự chủ. Các kỹ thuật này đạt hiệu quả lâm sàng đáng hài lòng và đã được trình diễn phẫu thuật nhiều lần tại các hội nghị quan trọng trong nước.
3. Khoa tích cực triển khai chẩn đoán sớm. Đối với ung thư trực tràng giai đoạn T1 còn sớm ở đoạn giữa và đoạn thấp, cũng như các polyp khổng lồ, khoa thực hiện phẫu thuật cắt bỏ tại chỗ ít xâm lấn qua đường hậu môn. Trên cơ sở bảo đảm tính triệt căn, phương pháp này bảo tồn chức năng hậu môn đồng thời chú trọng chất lượng cuộc sống của người bệnh. Kỹ thuật này đang ở trình độ dẫn đầu trong nước.
4. Khoa tích cực triển khai phẫu thuật bảo tồn hậu môn đối với ung thư trực tràng đoạn giữa và đoạn thấp. Đối với ung thư trực tràng thấp có khoảng cách từ bờ hậu môn đến khối u trong vòng 5 cm và chưa xâm lấn cơ thắt hậu môn, tỷ lệ bảo tồn hậu môn đạt khoảng 80%, đạt trình độ tiên tiến trong nước.
5. Kỹ thuật điều trị ung thư đại trực tràng tắc nghẽn bằng ống giải áp tắc ruột cũng đang ở trình độ dẫn đầu trong nước. Ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng tắc nghẽn, sau khi giảm áp trước mổ bằng ống tắc ruột và giải phóng tình trạng tắc nghẽn ở ruột non cũng như đại tràng đoạn gần, khoa tiến hành cắt bỏ và nối ngay trong một thì, tránh cho người bệnh phải chịu đựng cuộc phẫu thuật lần hai. Trong 3 năm gần đây, khoa đã hoàn thành gần 100 ca.
6. Đối với các trường hợp tái phát sau phẫu thuật ung thư đại trực tràng, khoa tổ chức thảo luận đa chuyên khoa MDT để đánh giá toàn diện tình trạng người bệnh và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Ở những trường hợp u tái phát tại chỗ được cắt bỏ triệt căn, tỷ lệ sống thêm 5 năm đạt 48%, mang lại hiệu quả điều trị tốt.
Đối với ung thư đại trực tràng ở các giai đoạn khác nhau, khoa nghiêm ngặt áp dụng các phác đồ điều trị tương ứng theo hướng dẫn NCCN và coi trọng điều trị cá thể hóa. Trên cơ sở bảo đảm tính triệt căn, khoa cố gắng tối đa duy trì chất lượng cuộc sống sau phẫu thuật của người bệnh, giúp họ tự tin trở lại xã hội.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn