Thận học
I. Tổng quan khoa Khoa Nội thận, Bệnh viện Trung Sơn trực thuộc Đại học Hạ Môn, được thành lập năm 2002, là chuyên khoa thận được thành lập sớm nhất tại thành phố Hạ Môn. Sau hơn 20 năm xây dựng, khoa đã phát triển thành chuyên ngành dẫn đầu trong lĩnh vực bệnh thận của tỉnh Phúc Kiến, cơ sở chạy thận nhân tạo có quy mô lớn nhất tỉnh Phúc Kiến, kết hợp khám chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học, với năng lực tổng thể luôn nằm trong nhóm dẫn đầu khu vực. Khoa là chuyên khoa lâm sàng trọng điểm của tỉnh Phúc Kiến, đơn vị nòng cốt của Trung tâm Nghiên cứu Y học Lâm sàng Quốc gia về Bệnh thận (một trong hai đơn vị nòng cốt của tỉnh Phúc Kiến), Trung tâm Quốc gia Quản lý toàn trình Bệnh thận mạn, cơ sở của Cơ quan Thử nghiệm Lâm sàng Thuốc Quốc gia (Good Clinical Practice, GCP), chuyên ngành trọng điểm trong quy hoạch chẩn đoán và điều trị bệnh thận do đái tháo đường của thành phố Hạ Môn và đơn vị xây dựng nền tảng được viện sĩ hướng dẫn; đồng thời là đơn vị trực thuộc “hai trung tâm kiểm soát chất lượng” gồm Trung tâm Kiểm soát Chất lượng Chạy thận nhân tạo thành phố Hạ Môn và Trung tâm Kiểm soát Chất lượng Chuyên ngành Bệnh thận thành phố Hạ Môn. Khoa đồng thời là đơn vị công tác của Chủ nhiệm Phân hội Thận học thuộc Hội Y học thành phố Hạ Môn và là đơn vị đầu mối của Trung tâm Phòng ngừa và Điều trị Bệnh thận mạn theo mô hình “phối hợp quản lý giữa ba nhóm chuyên môn” của thành phố Hạ Môn. Năng lực tổng thể của chuyên ngành được các hệ thống đánh giá có thẩm quyền ghi nhận ở mức cao: trong Chỉ số Giá trị Khoa học và Công nghệ Bệnh viện Trung Quốc (STEM) do Viện Hàn lâm Khoa học Y khoa Trung Quốc công bố năm 2018, khoa xếp thứ 94 toàn quốc về chuyên ngành Nội thận, là đơn vị duy nhất tại Hạ Môn lọt bảng (chỉ 3 bệnh viện của Phúc Kiến lọt vào); đứng đầu bảng xếp hạng bệnh viện Ailibi Hồng Kông ở hạng mục “chuyên ngành Nội thận của các bệnh viện Hạ Môn”; ba chỉ số lâm sàng chính gồm số bệnh nhân xuất viện, số lượt khám ngoại trú và số lượt chạy thận nhân tạo đều nằm trong nhóm dẫn đầu chuyên ngành bệnh thận của tỉnh Phúc Kiến, trong đó số lượt chạy thận nhân tạo liên tục 7 năm đứng đầu tỉnh Phúc Kiến. Với tư cách là đơn vị nòng cốt của Trung tâm Nghiên cứu Y học Lâm sàng Quốc gia về Bệnh thận, khoa phối hợp với 17 bệnh viện trong tỉnh xây dựng mạng lưới nghiên cứu hợp tác, thúc đẩy sự phát triển đồng bộ về chẩn đoán và điều trị bệnh thận trong khu vực. Khoa có hơn 110.000 lượt khám ngoại trú mỗi năm, hơn 4.000 lượt bệnh nhân xuất viện mỗi năm, thời gian nằm viện trung bình 6,5 ngày; có 85 giường bệnh nội trú đang sử dụng (bao gồm giường chăm sóc đặc biệt và giường chuyên dụng cho bệnh hiếm), hơn 480 bệnh nhân chạy thận nhân tạo duy trì, thực hiện hơn 70.000 lượt chạy thận nhân tạo mỗi năm và hơn 1.000 lượt điều trị thay thế thận liên tục (CRRT)/năm, theo dõi dài hạn khoảng 160 bệnh nhân thẩm phân phúc mạc; số lượt tiếp nhận hằng năm của bệnh viện Internet đứng thứ 2 toàn bệnh viện. II. Lịch sử kế thừa và nền móng chuyên ngành Giáo sư Li Guoxian, người sáng lập chuyên ngành, là một trong những người hướng dẫn cao học đầu tiên của tỉnh Phúc Kiến; tại Hạ Môn, ông là người đi đầu triển khai sinh thiết thận và chẩn đoán bệnh lý, đặt nền móng cho sự phát triển của chuyên ngành. Năm 2009, khoa trở thành trung tâm chạy thận nhân tạo lớn nhất khu vực Tây Nam Phúc Kiến; chương trình “Đến gần Khoa học” của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc đã thực hiện phóng sự chuyên đề về việc khoa cứu chữa thành công bệnh nhân mắc bệnh thận do đái tháo đường nặng. Công tác phân luồng và chuyển tuyến bệnh thận mạn của khoa đã được cơ quan y tế thành phố Hạ Môn giới thiệu lên Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc để tuyên truyền và phổ biến trên toàn quốc. III. Đội ngũ nhân lực Khoa hiện có 96 nhân viên y tế, gồm 20 bác sĩ và 76 điều dưỡng. Đội ngũ bác sĩ có 5 bác sĩ trưởng và 9 bác sĩ phó trưởng, tỷ lệ chức danh chuyên môn cao cấp đạt 70%; có 13 người có học vị tiến sĩ (bao gồm 2 người đang học), 6 người có học vị thạc sĩ; tỷ lệ có trình độ tiến sĩ là 65%, tỷ lệ có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ là 95%, chất lượng nhân lực nằm trong nhóm dẫn đầu toàn tỉnh. Đội ngũ hiện có 1 giáo sư, 3 phó giáo sư và 6 người hướng dẫn cao học. Trưởng khoa, Giáo sư Gao Qing, là tiến sĩ y khoa của Đại học Nam Kinh, được đào tạo dưới sự hướng dẫn của Viện sĩ Liu Zhihong, chuyên gia bệnh thận nổi tiếng quốc tế; là nhân tài trình độ cao và nhân tài nòng cốt của thành phố Hạ Môn, đồng thời là ủy viên Ủy ban Chuyên môn Ung thư–Thận học Tích hợp thuộc Hiệp hội Chống Ung thư Trung Quốc và ủy viên Ủy ban Chuyên môn Bệnh hiếm thuộc Hiệp hội Bệnh viện Trung Quốc. Giáo sư Gao Qing từng giành giải ba tại Cuộc thi Ca bệnh Bệnh thận hiếm toàn quốc và giải Vàng poster. Nguyên Trưởng khoa, Giáo sư Guan Tianjun, là tiến sĩ y khoa và nhân tài trọng điểm được thành phố Hạ Môn thu hút; là học trò của Viện sĩ Li Leishi và Viện sĩ Liu Zhihong; từng giữ chức Chủ nhiệm Phân hội Thận học thuộc Hội Y học thành phố Hạ Môn, Giám đốc Trung tâm Kiểm soát Chất lượng Chạy thận nhân tạo thành phố Hạ Môn và Giám đốc Trung tâm Phòng ngừa và Điều trị Bệnh thận mạn theo mô hình “phối hợp quản lý giữa ba nhóm chuyên môn” của thành phố Hạ Môn; từng nhận các giải thưởng nghiên cứu khoa học như Giải Nhì Tiến bộ Khoa học và Công nghệ Quốc gia, đồng thời được trao danh hiệu “Thầy thuốc giàu tình người nhất Hạ Môn” năm 2015. Đội ngũ chuyên gia còn có Giáo sư Guo Hancheng, một trong những người đầu tiên được công nhận là người dẫn dắt chuyên ngành y học của thành phố Hạ Môn, đồng thời là Chủ nhiệm Phân hội Thận học thuộc Hội Y học Cổ truyền Trung Quốc và Tây y Kết hợp thành phố Hạ Môn, cùng nhiều nhân sự nòng cốt khác. Hằng năm, khoa cử các bác sĩ nòng cốt đến đào tạo chuyên sâu tại Bệnh viện Nhân dân Đại học Bắc Kinh và các trung tâm hàng đầu khác trong nước; đồng thời thường xuyên tiếp nhận bác sĩ từ các bệnh viện tuyến cơ sở đến đào tạo chuyên sâu và đào tạo học viên cao học. IV. Các chuyên ngành phụ và phạm vi chẩn đoán, điều trị Khoa có 8 nhóm chuyên ngành phụ đã hoàn thiện, mở phòng khám bệnh thận thông thường và nhiều phòng khám chuyên bệnh như bệnh cầu thận, viêm thận mạn, suy thận mạn, quản lý sau ghép thận, bệnh thận mạn, bao phủ toàn bộ các bệnh thận, thực hiện điều trị chuyên biệt cho từng bệnh, chẩn đoán và điều trị chính xác: Chuyên ngành phụ bệnh cầu thận nguyên phát: chẩn đoán và điều trị tiêu chuẩn hóa các loại viêm thận và hội chứng thận hư như bệnh thận do immunoglobulin A (bệnh thận IgA), bệnh thận màng, bệnh cầu thận thay đổi tối thiểu, xơ hóa cầu thận khu trú từng đoạn. Bệnh nhân có các triệu chứng như tiểu bọt, tiểu máu, phù có thể được chẩn đoán rõ nguyên nhân tại đây. Chuyên ngành phụ bệnh thận thứ phát: chẩn đoán và điều trị tổn thương thận do các bệnh toàn thân như bệnh thận do đái tháo đường, tổn thương thận do tăng huyết áp, viêm thận lupus, tổn thương thận do viêm mạch liên quan đến kháng thể kháng bào tương bạch cầu đa nhân trung tính (ANCA), bệnh thận liên quan đến ung thư, bệnh thận liên quan đến béo phì. Chuyên ngành phụ tổn thương thận cấp và bệnh thận nguy kịch: điều trị hỗ trợ cơ quan trong mọi loại tổn thương thận cấp và suy đa tạng, đảm nhiệm hỗ trợ sự sống bằng lọc máu cho bệnh nhân nguy kịch trong toàn viện. Chuyên ngành phụ bệnh thận mạn và suy thận: quản lý toàn trình bệnh thận mạn giai đoạn 1—5, phòng ngừa và điều trị biến chứng urê huyết, lập kế hoạch các phương án điều trị thay thế thận. Chuyên ngành phụ lọc máu: triển khai đầy đủ các kỹ thuật lọc máu gồm chạy thận nhân tạo, lọc máu, hấp phụ máu, thay huyết tương, thay huyết tương kép, hấp phụ miễn dịch, điều trị thay thế thận liên tục (CRRT). Chuyên ngành phụ thẩm phân phúc mạc: đặt catheter thẩm phân phúc mạc, lập phác đồ thẩm phân phúc mạc tự động (APD), quản lý bệnh nhân thẩm phân phúc mạc tại nhà và xử trí biến chứng. Chuyên ngành phụ bệnh thận hiếm: chẩn đoán và điều trị bệnh thận di truyền, bệnh cầu thận ít gặp và bệnh ống thận–mô kẽ hiếm gặp. Chuyên ngành phụ bệnh thận chuyển hóa và sỏi: phòng ngừa và điều trị nội khoa bệnh thận do tăng acid uric máu, bệnh thận do gút, toan hóa ống thận và sỏi đường tiết niệu. V. Các kỹ thuật thế mạnh đặc trưng 1. Chẩn đoán mô bệnh học chính xác bằng sinh thiết thận đồng trục. Khoa thường quy triển khai sinh thiết thận qua da dưới hướng dẫn của siêu âm, thực hiện hơn 300 ca mỗi năm, sử dụng kỹ thuật chọc kim đồng trục: kim sinh thiết đi theo cùng một đường vào, định vị một lần và lấy mẫu tại nhiều điểm, giúp giảm đáng kể chấn thương và nguy cơ chảy máu do chọc kim nhiều lần, bệnh nhân ít đau hơn và độ an toàn cao hơn; phối hợp với Khoa Giải phẫu bệnh để thực hiện chẩn đoán bệnh lý chính xác các bệnh thận. Sinh thiết thận là “tiêu chuẩn vàng” để xác định loại bệnh lý của bệnh thận, cung cấp căn cứ đáng tin cậy cho điều trị cá thể hóa. 2. Lọc máu quy mô lớn, tiêu chuẩn hóa. Khoa được trang bị 133 máy chạy thận nhân tạo/máy lọc máu tiên tiến quốc tế (Phân khu II của Bộ phận Điều trị Lọc máu chính thức đưa vào sử dụng ngày 8 tháng 10 năm 2026; bổ sung 34 máy trên cơ sở 99 máy hiện có), sử dụng hệ thống xử lý nước thẩm thấu ngược hai cấp Lauer của Đức để sản xuất nước siêu tinh khiết dùng cho chạy thận nhân tạo, giảm nguy cơ biến chứng liên quan đến lọc máu ngay từ nguồn. Có hơn 500 bệnh nhân chạy thận nhân tạo duy trì, thực hiện hơn 70.000 lượt chạy thận nhân tạo mỗi năm, là trung tâm chạy thận nhân tạo đơn trung tâm lớn nhất tỉnh Phúc Kiến; số lượt chạy thận nhân tạo liên tục 7 năm đứng đầu toàn tỉnh, mức độ hài lòng của bệnh nhân đạt tới 98%. Khoa mở luồng xanh lọc máu dành cho bệnh nhân nguy kịch hoạt động 24 giờ, được trang bị 4 máy CRRT, thực hiện hơn 1.000 lượt CRRT mỗi năm và đảm nhiệm hỗ trợ sự sống bằng lọc máu cho bệnh nhân nguy kịch trong toàn viện. 3. Chẩn đoán và điều trị “một trạm” đường vào mạch máu chạy thận. Khoa nhiều lần lập “ca đầu tiên” trong lĩnh vực đường vào mạch máu: năm 2006, là đơn vị đầu tiên tại thành phố Hạ Môn độc lập triển khai đặt catheter tĩnh mạch trung tâm lưu dài hạn, chấm dứt lịch sử phẫu thuật này phải phụ thuộc vào chuyên gia từ nơi khác; thực hiện ca tạo hình đường rò động-tĩnh mạch bằng mạch nhân tạo đầu tiên tại Hạ Môn dưới gây tê cục bộ; là đơn vị đầu tiên tại tỉnh Phúc Kiến triển khai kỹ thuật phá huyết khối nội mạch+tiêu huyết khối+nong bóng. Số lượt phẫu thuật nong đường rò đã vượt 4.000, nằm trong nhóm dẫn đầu Phúc Kiến; tỷ lệ bệnh nhân tái tạo đường vào mạch máu giảm từ 17% xuống 5%, bảo vệ hiệu quả nguồn mạch máu quý giá của bệnh nhân. Khoa có phòng mổ can thiệp chuyên khoa, giúp thực hiện trọn gói việc tạo lập, bảo trì đường vào mạch máu và xử trí biến chứng ngay trong khoa. 4. Thẩm phân phúc mạc và quản lý lọc máu tại nhà. Khoa được trang bị 5 máy thẩm phân phúc mạc tự động (APD), theo dõi dài hạn khoảng 160 bệnh nhân thẩm phân phúc mạc; bệnh nhân có thể hoàn thành thẩm phân phúc mạc tại nhà vào ban đêm và nhận được sự theo dõi, hướng dẫn trực tuyến của đội ngũ y bác sĩ và điều dưỡng thông qua hệ thống quản lý từ xa bệnh nhân thẩm phân phúc mạc. Đội ngũ tiên phong áp dụng kỹ thuật rút catheter thẩm phân phúc mạc kiểu “pull” mới; chỉ mất vài phút để rút nguyên vẹn catheter thẩm phân phúc mạc, giảm đáng kể đau đớn cho bệnh nhân. 5. Chẩn đoán và điều trị bệnh thận hiếm. Khoa thành lập chuyên ngành phụ bệnh thận hiếm và chẩn đoán, điều trị phối hợp đa chuyên khoa bệnh hiếm (MDT), bố trí giường chuyên dụng cho bệnh hiếm tại khu điều trị. Người đứng đầu chuyên ngành đồng thời là ủy viên Ủy ban Chuyên môn Bệnh hiếm thuộc Hiệp hội Bệnh viện Trung Quốc, từng giành giải tại cuộc thi ca bệnh bệnh thận hiếm toàn quốc, cung cấp đội ngũ chẩn đoán và điều trị chuyên biệt, tiêu chuẩn hóa cho bệnh nhân mắc bệnh thận di truyền hoặc bệnh thận ít gặp có chẩn đoán khó. Năm 2025, Khu điều trị bệnh hiếm thuộc Khoa Nội thận chính thức thành lập; cùng với việc mở rộng khu chạy thận nhân tạo lần này, hai hạng mục cùng hỗ trợ sự phát triển của chuyên ngành “bệnh thận quy mô lớn”. 6. Chẩn đoán và điều trị phối hợp đa chuyên khoa (MDT). Khoa thường quy triển khai MDT ung thư–thận học (phối hợp với Khoa Huyết học và Khoa Ung bướu), MDT bệnh thận do đái tháo đường (phối hợp với Khoa Nội tiết), MDT bệnh thận hiếm và MDT đường vào mạch máu chạy thận, cung cấp phương án chẩn đoán và điều trị “một trạm” cho bệnh nhân phức tạp mắc đồng thời nhiều bệnh. Các chuyên gia của khoa tham gia biên soạn các hướng dẫn và đồng thuận cấp quốc gia như “Đồng thuận chuyên gia Trung Quốc về quản lý toàn trình protein niệu liên quan đến chẩn đoán và điều trị ung thư” và “Bảo vệ thận: Hướng dẫn kỹ thuật Trung Quốc về chẩn đoán và điều trị ung thư tích hợp”. 7. Quản lý toàn trình bệnh thận mạn theo mô hình “phối hợp quản lý giữa ba nhóm chuyên môn”. Là đơn vị đầu mối của Trung tâm Phòng ngừa và Điều trị Bệnh thận mạn theo mô hình “phối hợp quản lý giữa ba nhóm chuyên môn” của thành phố Hạ Môn, khoa đổi mới mô hình quản lý bệnh mạn với sự phối hợp của bác sĩ chuyên khoa, bác sĩ đa khoa và chuyên viên quản lý sức khỏe. Các chuyên gia định kỳ xuống tuyến cơ sở, mô hình đã mở rộng tới 22 trung tâm dịch vụ y tế cộng đồng trong khu vực; kinh nghiệm liên quan được cơ quan y tế thành phố Hạ Môn giới thiệu lên Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc để tuyên truyền và phổ biến trên toàn quốc, giúp bệnh nhân có thể nhận được quản lý theo dõi tiêu chuẩn của đội ngũ chuyên gia bệnh viện hạng IIIA ngay tại nơi cư trú. 8. Dịch vụ y tế Internet thuận tiện cho người bệnh. Số lượt tiếp nhận hằng năm của bệnh viện Internet đứng thứ 2 toàn bệnh viện; khoa thường quy triển khai tái khám trực tuyến, giải thích báo cáo, gia hạn đơn thuốc bệnh mạn và tư vấn sức khỏe, tạo thuận tiện cho bệnh nhân lọc máu và bệnh mạn trong việc theo dõi và đi khám. VI. Nghiên cứu khoa học và đào tạo Khoa là cơ sở của Cơ quan Thử nghiệm Lâm sàng Thuốc Quốc gia (cơ sở GCP), số lượng thử nghiệm lâm sàng thuốc được triển khai, bao gồm cả nghiên cứu đa trung tâm quốc tế, đứng đầu bệnh viện và thành phố Hạ Môn. Năm 2025, khoa có 14 dự án thử nghiệm lâm sàng thuốc đang triển khai, có thể mang lại cho bệnh nhân mắc bệnh thận khó điều trị cơ hội được điều trị bằng thuốc mới và phương pháp điều trị mới tiên tiến hàng đầu quốc tế. Năm 2018, khoa lọt vào top 100 toàn quốc về chuyên ngành Nội thận trong Chỉ số Giá trị Khoa học và Công nghệ Bệnh viện Trung Quốc (STEM) (đơn vị duy nhất tại Hạ Môn). Năm 2025, khoa công bố 13 bài báo học thuật, trong đó 11 bài được lập chỉ mục trong Science Citation Index (SCI); mới được phê duyệt 5 đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh và thành phố, gồm 2 đề tài chung của Quỹ Khoa học Tự nhiên tỉnh Phúc Kiến; 2 nghiên cứu lâm sàng được chọn để trình bày tại Hội nghị thường niên lần thứ 62 của Hiệp hội Thận học châu Âu (European Renal Association, ERA), trong đó 1 nghiên cứu được báo cáo miệng tại hội nghị. Các chuyên gia của khoa từng nhận những giải thưởng nghiên cứu khoa học như Giải Nhì Tiến bộ Khoa học và Công nghệ Quốc gia, tham gia biên soạn các hướng dẫn và đồng thuận chuyên gia cấp quốc gia như “Hướng dẫn quản lý thai kỳ ở bệnh nhân bệnh thận mạn”. Khoa đảm nhiệm công tác giảng dạy lâm sàng cho sinh viên đại học và học viên sau đại học của Trường Y thuộc Đại học Hạ Môn, là cơ sở đào tạo bác sĩ nội trú theo quy chuẩn cấp quốc gia; hằng năm chủ trì các hội nghị học thuật cấp tỉnh và thành phố như Lớp tập huấn kiểm soát chất lượng chạy thận nhân tạo thành phố Hạ Môn, Lớp học cập nhật tiến triển mới trong quản lý tích hợp bệnh thận mạn, liên tục đào tạo nhân lực chuyên ngành bệnh thận cho khu vực Tây Nam Phúc Kiến. VII. Trang thiết bị và môi trường chẩn đoán, điều trị Khoa có 85 giường bệnh tiêu chuẩn đang hoạt động, môi trường sạch sẽ, tiện nghi, cơ sở vật chất phụ trợ hoàn thiện; Bộ phận Điều trị Lọc máu được trang bị 100 máy chạy thận nhân tạo/máy lọc máu (không bao gồm 35 máy đang xây dựng), 4 máy CRRT, 5 máy thẩm phân phúc mạc tự động (APD) và hệ thống xử lý nước thẩm thấu ngược hai cấp Lauer của Đức. Thiết bị chẩn đoán và điều trị chuyên khoa gồm máy siêu âm Doppler màu nhập khẩu, máy theo dõi huyết áp lưu động, hệ thống quản lý thông tin bệnh thận mạn, hệ thống quản lý từ xa bệnh nhân thẩm phân phúc mạc và các thiết bị khác; ngoài ra còn có phòng mổ can thiệp đường vào mạch máu chuyên khoa, với trình độ trang thiết bị đạt mức tiên tiến trong nước. VIII. Danh hiệu của chuyên ngành Đơn vị chuyên khoa lâm sàng trọng điểm của tỉnh Phúc Kiến Đơn vị nòng cốt của Trung tâm Nghiên cứu Y học Lâm sàng Quốc gia về Bệnh thận (một trong hai đơn vị nòng cốt của tỉnh Phúc Kiến) Trung tâm Quốc gia Quản lý toàn trình Bệnh thận mạn Cơ quan Thử nghiệm Lâm sàng Thuốc Quốc gia (cơ sở GCP) Top 100 toàn quốc về chuyên ngành Nội thận trong Chỉ số Giá trị Khoa học và Công nghệ Bệnh viện Trung Quốc (STEM) (đơn vị duy nhất tại Hạ Môn lọt bảng) Đứng đầu bảng xếp hạng Ailibi Hồng Kông về “chuyên ngành Nội thận của các bệnh viện Hạ Môn” Chuyên ngành trọng điểm trong quy hoạch chẩn đoán và điều trị bệnh thận do đái tháo đường của thành phố Hạ Môn Đơn vị trực thuộc Trung tâm Kiểm soát Chất lượng Chạy thận nhân tạo thành phố Hạ Môn và Trung tâm Kiểm soát Chất lượng Chuyên ngành Bệnh thận thành phố Hạ Môn Đơn vị công tác của Chủ nhiệm Phân hội Thận học thuộc Hội Y học thành phố Hạ Môn Trung tâm Phòng ngừa và Điều trị Bệnh thận mạn theo mô hình “phối hợp quản lý giữa ba nhóm chuyên môn” của thành phố Hạ Môn Đơn vị Văn minh Thanh niên thành phố Hạ Môn Các chuyên gia đã nhận những danh hiệu và giải thưởng như Giải Nhì Tiến bộ Khoa học và Công nghệ Quốc gia, “Thầy thuốc giàu tình người nhất Hạ Môn”, lãnh đạo chuyên ngành y học đầu tiên của thành phố Hạ Môn và nhân tài trình độ cao của thành phố Hạ Môn. IX. Triết lý phục vụ Khoa luôn kiên định với tôn chỉ phục vụ “lấy người bệnh làm trung tâm”, tuân thủ văn hóa khoa “trách nhiệm, nghiêm cẩn, cống hiến”. Từ sàng lọc sớm protein niệu và tiểu máu đến điều trị thay thế thận và quản lý toàn trình urê huyết, khoa nỗ lực cung cấp cho mọi bệnh nhân bệnh thận dịch vụ y tế chính xác, tiêu chuẩn hóa, toàn trình và giàu tính nhân văn; với năng lực chuyên ngành đứng đầu bảng “chuyên ngành Nội thận của các bệnh viện Hạ Môn” và đứng đầu tỉnh Phúc Kiến, khoa bảo vệ sức khỏe thận của đông đảo người bệnh.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn