Phụ khoa
(I) Thông tin cơ bản của khoa Khoa phụ sản hiện có hơn 40 bác sĩ, trong đó hơn 20 người có chức danh cao và trên 95% có học vị thạc sĩ hoặc tiến sĩ. Khoa chia thành 6 tổ y tế, mỗi tổ do một giáo sư giàu kinh nghiệm lâm sàng phụ trách. Khoa có 166 giường (139 giường nội trú và 27 giường hóa trị) và hơn 20 phòng mổ, mỗi phòng có thể thực hiện phẫu thuật qua bụng, qua âm đạo và nội soi; một số phòng có thể trình diễn và truyền phẫu thuật để giảng dạy từ xa, các phòng mổ được trang bị trọn bộ trạm phẫu thuật điện tiên tiến và các thiết bị lớn khác. Mỗi năm khoa tiếp nhận hơn 10.000 lượt bệnh nhân và thực hiện hơn 9.000 ca phẫu thuật, gần 20% trong đó là ung thư phụ khoa. Mỗi năm cứu sống hơn 500 bệnh nhân nguy kịch với tỷ lệ thành công gần 100%, hội chẩn hơn 200 ca khó và tiếp nhận hàng trăm bệnh nhân nặng chuyển từ bệnh viện khác. Hiện khoa có thể thực hiện phẫu thuật triệt căn và siêu triệt căn cho mọi loại ung thư phụ khoa và hóa trị qua mọi đường, kết quả điều trị ung thư phụ khoa thuộc hàng đầu cả nước. Khoa đạt hiệu quả rõ rệt trong lạc nội mạc tử cung, các dị dạng phức tạp của đường sinh dục, rò đường sinh dục, bệnh sàn chậu và viêm nhiễm đường sinh dục nữ. Khoa cũng dẫn đầu cả nước về phẫu thuật cắt cổ tử cung triệt căn bảo tồn tử cung ở bệnh nhân ung thư cổ tử cung trẻ, cắt tử cung triệt căn bảo tồn chức năng thần kinh bàng quang, điều trị can thiệp thai trên sẹo mổ và thai ở cổ tử cung, và điều trị bệnh phụ khoa lành tính và ác tính bằng nội soi ổ bụng và nội soi tử cung.
Hiện có 14 giáo sư, 12 phó giáo sư và hơn 20 bác sĩ điều trị cùng bác sĩ nội trú, trong đó trên 95% có học vị thạc sĩ hoặc tiến sĩ và trên 80% từng đào tạo, học tập hoặc thăm quan ở nước ngoài. Nhiều người là chuyên gia đầu ngành học thuật và kỹ thuật cấp tỉnh hoặc kế cận, lãnh đạo học thuật và kỹ thuật của sở y tế tỉnh cùng người kế cận; khoa là nơi đặt chủ tịch và phó chủ tịch Phân hội Ung thư Phụ khoa Hiệp hội Y học Trung Quốc và chủ tịch Trung tâm Hoa Tây. Khoa có 3 thầy hướng dẫn tiến sĩ, 22 thầy hướng dẫn thạc sĩ và một trạm nghiên cứu sau tiến sĩ. Ung thư phụ khoa là ngành học trọng điểm lâm sàng của Bộ Y tế trong 7 năm liên tiếp; khoa đã thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu cấp cao của Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia, Bộ Y tế và tỉnh Tứ Xuyên, nhiều lần đoạt giải khoa học công nghệ cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh và thành phố, trở thành chương trình tiến sĩ quốc gia, trạm sau tiến sĩ và Trung tâm Phòng chống và Điều trị Ung thư Phụ khoa Thành Đô của Quỹ Ung thư Trung Quốc. Với dịch vụ chất lượng, y đức tốt và chất lượng điều trị cao, đội ngũ đã nhiều lần nhận danh hiệu tập thể tiên tiến và tập thể nữ tiên tiến của Bộ Y tế và tỉnh Tứ Xuyên.
Trưởng khoa Phụ sản: Vương Bình; Phó khoa: Thạch Cương, Doãn Như Thiết, Trịnh Oánh.
(II) Giới thiệu các phân ngành 1. Ung thư phụ khoa Phân ngành ung thư phụ khoa hai lần được hỗ trợ là ngành học trọng điểm lâm sàng của Bộ Y tế, có thiết bị tiên tiến và kỹ thuật tinh xảo, đảm nhận hội chẩn phẫu thuật ung thư phụ khoa và điều trị ca khó cho bệnh viện các cấp ở miền Tây. Khoa là đơn vị đầu tiên trong nước thực hiện phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tạng chậu (trước và sau) kèm chuyển dòng nước tiểu và phân cho ung thư chậu tái phát, phẫu thuật cắt cổ tử cung triệt căn bảo tồn tử cung ở bệnh nhân trẻ và cắt tử cung triệt căn bảo tồn thần kinh bàng quang; chẩn đoán và điều trị u phụ khoa ở trình độ hàng đầu cả nước. 2. Phụ khoa tổng quát (1) Lạc nội mạc tử cung Những năm gần đây tỷ lệ mắc tăng dần; bệnh có thể gây đau bụng kinh, đau khi giao hợp và rối loạn kinh nguyệt, 50%-70% bệnh nhân có thể bị vô sinh thứ phát, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe thể chất, tinh thần và chất lượng sống. Khoa đã tích lũy nhiều kinh nghiệm điều trị nội khoa và phẫu thuật cho mọi thể, tỷ lệ giảm triệu chứng và tỷ lệ có thai sau điều trị tăng rõ rệt, đặc biệt có thành tựu với thể nặng và thể thâm nhiễm sâu. (2) Bệnh sàn chậu phụ khoa Sa tạng chậu, rối loạn kiểm soát tiểu ở nữ, rò niệu và rò phân ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe phụ nữ, thường do chấn thương khi sinh, mô sàn chậu phát triển kém hoặc thoái hóa. Khoa đã nghiên cứu cơ bản và lâm sàng rộng rãi, đưa vào quan niệm mới trong chẩn đoán và điều trị, đạt kết quả tốt đặc biệt ở điều trị bảo tồn thể nhẹ (tập cơ sàn chậu, vật lý trị liệu) và phẫu thuật thể nặng. Những năm gần đây, với việc sử dụng vật liệu sinh học niệu phụ khoa và tái tạo sàn chậu (như dải băng transobturator không căng, hệ thống tái tạo toàn bộ sàn chậu Prolift), điều trị phục hồi rối loạn chức năng sàn chậu đã lên tầm cao mới. (3) Các bệnh phụ khoa khác Chỉnh sửa dị dạng đường sinh dục, chẩn đoán và điều trị các u phụ khoa lành tính và viêm đường sinh dục nữ cũng được thực hiện rộng rãi với nhiều kinh nghiệm lâm sàng. Nhiều nghiên cứu cơ bản về nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh đã được tiến hành hiệu quả, tạo nền tảng tốt cho điều trị khỏi. Ngoài ra, vì kỹ thuật xâm lấn tối thiểu ngày càng được bệnh nhân và thầy thuốc coi trọng, khoa đi đầu cả nước trong ứng dụng, thực hiện rộng rãi cắt tử cung qua âm đạo, điều trị bệnh sàn chậu và chỉnh sửa dị dạng đường sinh dục với kết quả tốt. Nội soi cũng được dùng rộng rãi và trở thành phương pháp thường quy để chẩn đoán và phân biệt khối vùng chậu, đau bụng, thai ngoài tử cung và chảy máu tử cung bất thường; khoa thực hiện cắt tử cung triệt căn mở rộng và nạo hạch chậu bằng video nội soi ổ bụng chất lượng cao, điều trị u xơ tử cung, u buồng trứng, lạc nội mạc tử cung và thai ống dẫn trứng; qua nội soi tử cung thực hiện khâu vòng cổ tử cung, cắt nội mạc tử cung, cắt u xơ dưới niêm mạc và polyp nội mạc tử cung. Kết hợp nội soi tử cung và ổ bụng được dùng cho dị dạng phát triển đường sinh dục phức tạp.
(III) Công tác lâm sàng Kiên trì lấy người bệnh làm trung tâm, trên cơ sở tôn trọng, thấu hiểu và quan tâm, khoa thực hiện dịch vụ chất lượng và điều dưỡng toàn diện có trách nhiệm, chú trọng giáo dục y đức và phục vụ bệnh nhân hết lòng; mức hài lòng của bệnh nhân trên 95%. Năm 2011 ghi nhận hàng chục lần từ chối phong bì đỏ với tổng số 63.000 nhân dân tệ, nhận 9 băng rôn và 63 thư cảm ơn. Khoa không ngừng tăng cường thực hiện hệ thống quản lý chất lượng, ghi chép hồ sơ bệnh án và đánh giá kỹ năng; không mất hồ sơ bệnh án nào trong năm và tỷ lệ hồ sơ loại A đạt 100%. Năm 2011 khoa điều trị 13.157 bệnh nhân và phẫu thuật 9.599 ca (trong đó 1.235 ca ung thư); công suất giường 123,2%, thời gian nằm viện trung bình 5,4 ngày, tỷ lệ khỏi 94,1%. Bệnh nhân nặng và phức tạp chiếm tỷ lệ lớn; khoa duy trì chế độ hội chẩn bệnh nặng và khó bất cứ lúc nào, phát huy trí tuệ tập thể để đưa ra phương án tối ưu. Trong năm cứu sống 509 bệnh nhân và hội chẩn thảo luận 213 ca nặng.
(IV) Hoạt động nghiên cứu và học thuật 1) Nghiên cứu Khoa thực hiện nhiều đề tài, gồm Quỹ đặc biệt chương trình khoa học công nghệ trọng điểm quốc gia, Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia, Quỹ đặc biệt luận án tiến sĩ xuất sắc, đề tài cấp tỉnh và hợp tác. Năm 2011 khoa được phê duyệt 30 đề tài với tổng kinh phí 6,28 triệu nhân dân tệ, trong đó 1 đề tài Chương trình 973 quốc gia và 1 đề tài nhánh, 1 đề tài Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia và 1 quỹ thanh niên, 9 đề tài cấp bộ và tỉnh. Cán bộ tham gia biên soạn 3 sách chuyên khảo và dịch 2 sách; được cấp 5 bằng sáng chế. Một kết quả nghiên cứu đoạt giải ba tiến bộ khoa học công nghệ tỉnh Tứ Xuyên. 2) Bài báo Trung bình mỗi năm công bố gần 100 bài, gồm bài chất lượng được SCI, EI và Medline thu thập; năm 2011 công bố 73 bài, trong đó 18 bài SCI. 3) Giao lưu học thuật Tháng 10/2011 khoa đăng cai Hội nghị Ung thư Phụ khoa Toàn quốc lần thứ 12. Trong năm cán bộ tham gia 11 hoạt động quốc tế và 56 hoạt động trong nước, báo cáo 19 lượt. 4) Giáo dục y học Khoa có 38 nghiên cứu sinh tiến sĩ và 90 học viên thạc sĩ; hội thảo giải phẫu bệnh lâm sàng đa khoa (CPC) mỗi tháng; giảng dạy buồng bệnh mỗi tháng; thảo luận học thuật chuyên đề định kỳ cho sinh viên y, bác sĩ tu nghiệp và học viên sau đại học; giảng học thuật chiều thứ Tư hằng tuần; giảng dạy chương trình đào tạo liên tục của Bộ Y tế và tỉnh hằng năm. 5) Giáo dục sức khỏe (1) Ứng dụng nội soi phụ khoa trong bệnh phụ khoa; (2) phòng và điều trị viêm âm đạo do nấm Candida; (3) phòng, chẩn đoán và điều trị ung thư cổ tử cung; (4) phòng, chẩn đoán và điều trị lạc nội mạc tử cung; (5) chẩn đoán và điều trị u xơ tử cung; (6) giới thiệu bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nữ; (7) liệu pháp hormone thay thế cho bệnh nhân ung thư phụ khoa; (8) phòng, chẩn đoán và điều trị ung thư buồng trứng; (9) đánh giá và phục hồi rối loạn chức năng sàn chậu.
(V) Các đơn vị trực thuộc Khoa có ba đơn vị trực thuộc: 1) Trung tâm Đào tạo Học thuật Hoa Tây của Phân hội Ung thư Phụ khoa Hiệp hội Y học Trung Quốc Năm 2005 trung tâm ung thư phụ khoa trở thành một trong năm cơ sở đào tạo học thuật quốc gia được Phân hội Ung thư Phụ khoa Hiệp hội Y học Trung Quốc chứng nhận, tức Trung tâm Đào tạo Học thuật Ung thư Phụ khoa Hoa Tây, phụ trách đào tạo, chứng nhận và giao lưu học thuật cho bác sĩ ung thư phụ khoa khu vực Tây Bắc và Tây Nam. 2) Cơ sở Đào tạo Kỹ thuật Chẩn đoán và Điều trị Nội soi Phụ khoa của Bộ Y tế Tại Đại hội Bác sĩ Nội soi Trung Quốc lần thứ 17, Bộ Y tế công bố 15 bệnh viện đầu tiên trong cả nước đã qua thẩm định là cơ sở đào tạo chẩn đoán và điều trị nội soi và cấp chứng chỉ; trung tâm phẫu thuật xâm lấn tối thiểu phụ khoa của bệnh viện chúng tôi là một trong số đó và là cơ sở đào tạo nội soi phụ khoa duy nhất ở Tây Nam. Cơ sở có thiết bị giảng dạy và y tế hàng đầu trong nước, nguồn lực giảng dạy lâm sàng phong phú, đội ngũ giảng viên mạnh và cơ cấu tổ chức quản lý lành mạnh, bảo đảm đầy đủ tính chuẩn mực và nghiêm ngặt của đào tạo. Kỹ thuật nội soi phụ khoa của bệnh viện bắt đầu từ những năm 1980; sau hơn 20 năm phát triển, năm 2003 đã thành lập phòng mổ nội soi số hóa thông minh với thiết bị phẫu thuật hàng đầu và năng lực kỹ thuật mạnh. Những năm gần đây phẫu thuật nội soi phát triển nhanh, trung bình hơn 6.000 ca/năm, trên 60% phẫu thuật phụ khoa có thể hoàn thành bằng nội soi. Các bệnh hiện được điều trị nội soi gồm ung thư cổ tử cung sớm, ung thư nội mạc tử cung, u xơ tử cung, adenomyosis, nang buồng trứng, lạc nội mạc tử cung, vô sinh, thai ngoài tử cung, khối viêm vùng chậu và dính vùng chậu; polyp nội mạc tử cung, vách tử cung, dị dạng đường sinh dục, dính buồng tử cung, chảy máu tử cung rối loạn chức năng, vòng tránh thai lạc vị trí và dị vật trong buồng tử cung. 3) Cơ sở thí điểm đào tạo bác sĩ chuyên khoa của Bộ Y tế (sản phụ khoa) Bệnh viện Hoa Tây thứ hai thuộc Đại học Tứ Xuyên là bệnh viện chuyên khoa phụ nữ và trẻ em hạng ba loại A trực thuộc Bộ Y tế, lớn nhất miền Tây, và là bệnh viện giảng dạy của một trường đại học trọng điểm thuộc Bộ Giáo dục. Nhi khoa và sản phụ khoa đều là ngành học trọng điểm quốc gia, có quyền cấp bằng thạc sĩ, tiến sĩ và trạm sau tiến sĩ. Năm 1993 bệnh viện được Bộ Y tế phê duyệt là bệnh viện thí điểm đào tạo bác sĩ nội trú chuẩn hóa, sản phụ khoa được phê duyệt là cơ sở đào tạo bác sĩ nội trú. Ngày 28/12/2006 bệnh viện đã vượt qua thẩm định tại chỗ cơ sở thí điểm đào tạo bác sĩ chuyên khoa với kết quả xuất sắc, trở thành một trong những bệnh viện đầu tiên, và sản phụ khoa trở thành cơ sở thí điểm duy nhất của Bộ Y tế về nhi khoa và sản phụ khoa ở miền Tây. Ngày 7/12/2007, tại lần thẩm định lại, chuyên gia và lãnh đạo Bộ Y tế đánh giá đầy đủ công tác thí điểm, ca ngợi đào tạo, quản lý và theo dõi chính sách. Từ năm 1993 bệnh viện thực hiện đào tạo chuẩn hóa bác sĩ nội trú và chuyên khoa theo quy định của Bộ, hướng tới xây dựng cơ sở đào tạo nhân lực chuyên khoa sức khỏe bà mẹ trẻ em hàng đầu quốc gia; dần hình thành hệ thống tổ chức lành mạnh, nền tảng giảng dạy xuất sắc và hệ thống quy định quản lý khoa học, nhân văn, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững, đào tạo nhiều bác sĩ sản phụ khoa và nhi khoa có nền tảng lý luận vững vàng, năng lực lâm sàng, giảng dạy và nghiên cứu mạnh. Không ngừng tích lũy kinh nghiệm và đổi mới, năm 2004 bệnh viện khởi động mô hình 3+2 đào tạo chuẩn hóa bác sĩ nội trú và chuyên khoa theo thân phận xã hội, công khai tuyển học viên toàn quốc. Hiện nay bác sĩ nội trú được đào tạo sản phụ khoa đã trở thành lực lượng không thể thiếu trên tuyến đầu lâm sàng của bệnh viện.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn
Bác sĩ
Hồ sơ bác sĩ: 38
何跃东
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Đọc thêm
Có kinh nghiệm chẩn đoán và điều trị nhiều loại u phụ khoa, lạc nội mạc tử cung, bệnh sàn chậu phụ khoa, bệnh viêm phụ khoa, rối loạn kinh nguyệt và các bệnh phụ khoa khó khác; đặc biệt thành thạo điều trị u phụ khoa lành tính và ác tính cùng bệnh sàn chậu bằng nội soi buồng tử cung, nội soi ổ bụng, phẫu thuật mở và phẫu thuật đường âm đạo; đã thực hiện nhiều phẫu thuật khó cho ung thư cổ tử cung, buồng trứng, nội mạc tử cung, âm hộ, lạc nội mạc tử cung sâu vùng chậu và tái tạo sa sàn chậu.