Nội tiết và Bệnh chuyển hóa
Bệnh viện Qilu thuộc Đại học Sơn Đông là bệnh viện trực thuộc (chịu sự quản lý của) Ủy ban Y tế Quốc gia, bệnh viện trực thuộc Đại học Sơn Đông—một trường đại học trọng điểm trực thuộc Bộ Giáo dục, đơn vị chủ trì và xây dựng chính của Trung tâm y tế khu vực quốc gia (tổng hợp) được xây dựng theo mô hình đồng xây dựng giữa Ủy ban và tỉnh trong đợt đầu tiên, đồng thời là bệnh viện cung cấp đầu ra cho việc xây dựng các trung tâm y tế khu vực quốc gia. Vào những năm 1950, Giáo sư Zhou Xianteng và Giáo sư Zhang Baozhu, những chuyên gia nổi tiếng trên toàn quốc và là người sáng lập chuyên ngành nội tiết lâm sàng của tỉnh, đã thành lập chuyên ngành Nội tiết và Bệnh chuyển hóa tại Bệnh viện Qilu thuộc Đại học Sơn Đông; đây cũng là chuyên ngành nội tiết và bệnh chuyển hóa được thành lập sớm nhất tại tỉnh Sơn Đông. Sau hơn 60 năm phát triển, đặc biệt là hơn 10 năm qua, dưới sự lãnh đạo của trưởng chuyên ngành là Giáo sư Chen Li, chuyên ngành đã phát triển nhanh chóng. Hiện nay, đây là đơn vị giữ chức Phó Chủ nhiệm Phân hội Đái tháo đường thuộc Hội Y học Trung Quốc, đồng thời là đơn vị đảm nhiệm chức Chủ nhiệm của nhiều tổ chức học thuật cấp tỉnh. Năm 2011, khoa được lựa chọn là đơn vị xây dựng chuyên khoa lâm sàng trọng điểm quốc gia; năm 2020, được phê duyệt tham gia Dự án xây dựng năng lực chẩn đoán và điều trị hợp tác đa chuyên ngành đối với các bệnh nghiêm trọng quốc gia; năm 2022, được lựa chọn là nhóm nòng cốt xây dựng chuyên ngành y học lâm sàng thuộc các chuyên ngành quốc gia “Song nhất lưu” của Đại học Sơn Đông. Khoa đã chủ trì thành lập Viện Nghiên cứu Nội tiết và Bệnh chuyển hóa thuộc Đại học Sơn Đông, được công nhận là Phòng thí nghiệm trọng điểm về y dược và y tế tỉnh Sơn Đông và Trung tâm Nghiên cứu Y học Lâm sàng thành phố Tế Nam. Hiện nay, khoa đã được phê duyệt triển khai nhiều dự án nền tảng cấp quốc gia như Trung tâm chẩn đoán và điều trị tiêu chuẩn hóa bệnh đái tháo đường quốc gia, Trung tâm đào tạo thực hành quản lý đái tháo đường cho bác sĩ tuyến cơ sở thuộc Bộ Y tế, Đơn vị kiểu mẫu quốc gia về quản lý sức khỏe bệnh đái tháo đường và Trung tâm quản lý bệnh chuyển hóa tiêu chuẩn hóa quốc gia. Khoa cũng chủ trì thành lập Liên minh đổi mới khoa học và công nghệ dữ liệu lớn về y tế và sức khỏe bệnh đái tháo đường tỉnh Sơn Đông và Liên minh chẩn đoán, điều trị chính xác bệnh nội tiết và chuyển hóa thuộc Trung tâm y tế khu vực đồng xây dựng giữa Ủy ban Y tế Quốc gia và tỉnh Sơn Đông; liên tục đạt đề cử cao nhất trong bảng xếp hạng chuyên ngành của Đại học Phúc Đán.
Chuyên ngành tuân thủ cơ cấu phát triển khoa lấy phòng khám ngoại trú, khu điều trị nội trú, phòng xét nghiệm, phòng kiểm tra chuyên sâu, phòng điều trị và viện nghiên cứu làm nòng cốt. Ngoài khu ngoại trú và khu nội trú, khoa còn có Phòng xét nghiệm hormone nội tiết, Phòng kiểm tra chuyên sâu nội tiết, Phòng can thiệp ít xâm lấn tuyến giáp, Phòng điều trị hạt nhân phóng xạ, Phòng nghiên cứu điều trị bằng tế bào gốc, Viện Nghiên cứu Nội tiết và Chuyển hóa thuộc Đại học Sơn Đông và Phòng thí nghiệm trọng điểm về y dược và y tế cấp tỉnh. Hiện nay, Khoa Nội tiết và Bệnh chuyển hóa chính thức có 76 giường bệnh và 8 giường điều trị bằng iốt phóng xạ 131, khu ngoại trú được chia thành phòng khám chuyên gia danh tiếng, phòng khám chuyên gia, phòng khám bệnh chuyên khoa và phòng khám thông thường, với tổng số lượt khám ngoại trú trên 100.000 lượt/năm. Khoa hiện có 77 nhân viên đang công tác thuộc các lĩnh vực y, điều dưỡng, kỹ thuật và nghiên cứu, 5 nhân viên được tuyển dụng lại và 2 chuyên gia kiêm nhiệm; trong đó có 1 viện sĩ đồng tuyển dụng, 1 giáo sư đặc biệt thuộc chương trình Học giả Taishan, 1 nhân tài dẫn đầu ngành công nghiệp Taishan của tỉnh Sơn Đông, 7 người hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ, 14 người hướng dẫn nghiên cứu sinh thạc sĩ, 12 bác sĩ trưởng, 9 phó bác sĩ trưởng và 4 bác sĩ điều trị. Khoa còn có 4 nghiên cứu sinh sau tiến sĩ toàn thời gian; tỷ lệ nhân viên có bằng tiến sĩ là 94%, tỷ lệ nhân viên có kinh nghiệm làm việc hoặc nghiên cứu ở nước ngoài >80%. Đây là một đội ngũ bác sĩ trẻ, năng động, cơ cấu đào tạo hợp lý và trình độ cao.
[Y học lâm sàng và đặc điểm chuyên môn] Là chuyên khoa lâm sàng trọng điểm quốc gia và đơn vị dẫn đầu chuyên ngành nội tiết của Sơn Đông, khoa triển khai các hạng mục chẩn đoán và điều trị thường quy như xét nghiệm hormone, sàng lọc biến chứng và bệnh đồng mắc, tập trung vào dự phòng, điều trị bệnh đái tháo đường và quản lý bệnh mạn tính. Khoa đã nghiên cứu và phát triển hệ thống quản lý đường huyết tích hợp trong và ngoài bệnh viện, hỗ trợ người bệnh đạt được hiệu quả quản lý đường huyết tốt hơn. Đồng thời, khoa tiến hành các cuộc điều tra dịch tễ học quy mô lớn và thành lập ngân hàng mẫu sinh học. Trên cơ sở đó, khoa còn triển khai nghiên cứu cơ bản và lâm sàng về điều trị đái tháo đường bằng tế bào gốc, thành lập phòng thí nghiệm liên hợp về tuyến tụy nhân tạo và tích cực thúc đẩy chuyển giao, ứng dụng các kết quả nghiên cứu. Trong chẩn đoán và điều trị bệnh tuyến giáp, khoa chủ trì triển khai một loạt kỹ thuật cơ bản và đổi mới, bao gồm xét nghiệm hormone liên quan đến tuyến giáp, chọc hút tuyến giáp dưới hướng dẫn siêu âm, xét nghiệm gen mẫu bệnh phẩm chọc hút, đốt sóng cao tần nhân tuyến giáp và điều trị bằng iốt phóng xạ, qua đó xây dựng hệ thống chẩn đoán và điều trị tích hợp bệnh tuyến giáp. Ngoài chẩn đoán và điều trị các bệnh thường gặp, khoa còn đạt trình độ tiên tiến trong nước về chẩn đoán các bệnh khó và hiếm. Hiện nay, khoa đã xây dựng nền tảng hoàn chỉnh về xét nghiệm, phân tích và nghiên cứu gen, đồng thời chủ trì Liên minh chẩn đoán và điều trị chính xác bệnh nội tiết và chuyển hóa tỉnh Sơn Đông, qua đó nâng cao đáng kể trình độ chẩn đoán và điều trị các bệnh nội tiết khó và hiếm tại tỉnh Sơn Đông.
Các đặc điểm chuyên môn chính của khoa được giới thiệu như sau:
1. Xây dựng nền tảng quản lý toàn diện bệnh đái tháo đường lấy người bệnh làm trung tâm: Dự phòng và điều trị bệnh đái tháo đường cùng các biến chứng là trọng tâm lâm sàng và nghiên cứu khoa học của Khoa Nội tiết và Bệnh chuyển hóa. Hiện nay, khoa đã từng bước xây dựng nền tảng quản lý toàn diện bệnh đái tháo đường, nền tảng chẩn đoán và điều trị chính xác, nền tảng giao thoa y học-kỹ thuật và chuyển giao ứng dụng. Khoa coi trọng việc sàng lọc và phòng ngừa, kiểm soát bệnh mạn tính, đặc biệt là bệnh đái tháo đường. Hiện khoa đang triển khai điều tra dịch tễ học bệnh đái tháo đường và công tác hỗ trợ đối ứng tại nhiều bệnh viện tuyến cơ sở và cộng đồng, bao gồm các chương trình đào tạo nhân viên y tế tuyến cơ sở về chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường cùng các biến chứng. Khoa đã thành lập Liên minh chính xác về nội tiết và bệnh chuyển hóa thuộc Trung tâm y tế khu vực quốc gia do Ủy ban Y tế Quốc gia và tỉnh Sơn Đông cùng xây dựng, giúp nhận diện chính xác hơn các thể bệnh đái tháo đường, đặc biệt là các thể đái tháo đường đặc biệt, cung cấp căn cứ đáng tin cậy cho chẩn đoán, điều trị chính xác và tư vấn di truyền cho người bệnh. Khoa chú trọng sàng lọc và chẩn đoán, điều trị biến chứng; đã đạt được những đột phá trong điều trị bệnh thận do đái tháo đường và loét da do đái tháo đường. Trong những năm gần đây, khoa đã công bố các ấn phẩm liên quan và nộp đơn xin cấp bằng sáng chế với tổng số hơn 10 hạng mục, hứa hẹn chuyển giao ứng dụng vào lâm sàng. Khoa triển khai các phòng khám chuyên biệt về đánh giá nguy cơ sớm và sàng lọc biến chứng đái tháo đường, tư vấn sức khỏe bệnh đái tháo đường, quản lý bơm insulin và chăm sóc bệnh đái tháo đường; đồng thời khởi động hệ thống theo dõi bệnh án điện tử của người bệnh đái tháo đường, giúp người bệnh nhận được quản lý toàn diện ngay tại phòng khám ngoại trú. Khu điều trị nội trú Nội tiết và Bệnh chuyển hóa nằm tại Tòa nhà Qilu, có môi trường phòng bệnh rộng rãi, sáng sủa, các điều kiện khám chữa bệnh thông minh và đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng quản lý chuyên nghiệp. Ngoài chẩn đoán và điều trị hằng ngày, khoa còn cung cấp hướng dẫn dinh dưỡng và giáo dục sức khỏe cá thể hóa cho người bệnh đái tháo đường, triển khai quản lý đường huyết toàn bệnh viện. Hiện khu điều trị nội trú Nội tiết và Bệnh chuyển hóa cũng là Đơn vị kiểu mẫu giáo dục bệnh đái tháo đường toàn quốc và cơ sở đào tạo điều dưỡng chuyên khoa đái tháo đường cấp tỉnh. Khu điều trị nội trú còn thành lập phòng điều trị bàn chân đái tháo đường chuyên biệt, được trang bị hệ thống chẩn đoán và điều trị bàn chân đái tháo đường tiên tiến, bao gồm máy đo huyết động dòng máu, máy đo áp lực riêng phần oxy qua da, máy điều trị áp lực âm và máy làm sạch vết thương bằng siêu âm. Khoa tích cực phối hợp với khoa Ngoại bỏng và khoa Ngoại mạch máu để triển khai chẩn đoán và điều trị toàn diện bàn chân đái tháo đường, đồng thời lên kế hoạch thành lập Trung tâm chẩn đoán và điều trị bàn chân đái tháo đường Bệnh viện Qilu thuộc Đại học Sơn Đông.
Từ năm 2005, khoa luôn nỗ lực phát triển điều trị tái sinh cho bệnh đái tháo đường, đặc biệt là đái tháo đường typ 1. Đến nay, hơn 200 người bệnh đã được điều trị bằng tế bào gốc và đạt hiệu quả lâm sàng tốt. Đội ngũ của khoa dưới sự dẫn dắt của Giáo sư Chen Li đã chứng minh thông qua nghiên cứu cơ bản và lâm sàng nhiều cơ chế của điều trị đái tháo đường bằng tế bào gốc; kết quả nghiên cứu đã đạt Giải Nhì Tiến bộ Khoa học và Công nghệ tỉnh Sơn Đông. Hiện nay, khoa đã chủ trì thành lập Trung tâm Điều trị Tế bào, tích cực triển khai nghiên cứu lâm sàng về truyền tuần tự tế bào gốc từ dây rốn/máu cuống rốn và điều trị can thiệp miễn dịch bệnh đái tháo đường typ 1, cũng như sàng lọc tính không đồng nhất của tế bào gốc và điều trị chính xác, chuyển giao ứng dụng ngoại bào thể; đồng thời chủ trì biên soạn “Tuyên bố quan điểm về điều trị bệnh đái tháo đường bằng tế bào gốc”.
2. Phòng ngừa và điều trị béo phì trở thành một nhánh quan trọng trong phát triển chuyên ngành: Khoa đã thực hiện nhiều công việc trong phòng ngừa và điều trị béo phì, đặc biệt là béo phì ở thanh thiếu niên, và đi đầu trong việc thành lập Trung tâm Phòng ngừa và Điều trị Béo phì đầu tiên trong tỉnh. Khoa đã thành lập phòng khám chuyên bệnh béo phì; triển khai theo dõi thành phần mỡ cơ thể; sử dụng phương pháp trở kháng điện sinh học và phương pháp hấp thụ tia X năng lượng kép để xác định lượng và sự phân bố mỡ ở người béo phì; theo dõi rối loạn hô hấp khi ngủ; sử dụng thang điểm buồn ngủ Epworth và bảng câu hỏi Berlin để đánh giá; đồng thời sử dụng máy theo dõi giấc ngủ di động RESMED nhằm bảo đảm chẩn đoán sớm và điều trị sớm hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn. Khoa phối hợp với khoa Ngoại tổng quát để triển khai phẫu thuật điều trị béo phì, thành lập nhóm chuyên gia phẫu thuật giảm cân và đái tháo đường, đồng thời phối hợp biên soạn “Sổ tay điều trị phẫu thuật giảm cân và đái tháo đường của Bệnh viện Qilu thuộc Đại học Sơn Đông”. Khoa sẽ tiếp tục thúc đẩy nghiên cứu lâm sàng và cơ bản về điều trị béo phì và đái tháo đường typ 2 bằng phẫu thuật giảm cân tại bệnh viện, mang lại lợi ích cho đông đảo người bệnh béo phì và đái tháo đường.
3. Đặc điểm nổi bật trong phòng ngừa, điều trị và nghiên cứu bệnh tuyến giáp: Trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc bệnh tuyến giáp, đặc biệt là ung thư tuyến giáp, có xu hướng tăng nhanh. Khoa luôn coi trọng sự phát triển của chuyên ngành phụ về bệnh tuyến giáp. Hiện nay, khoa đã hình thành hệ thống chẩn đoán và điều trị lâm sàng tương đối hoàn chỉnh đối với u tuyến giáp, gồm phòng khám tuyến giáp, khu điều trị nội trú, phòng xét nghiệm chức năng tuyến giáp, phòng chọc hút kim nhỏ tuyến giáp và phòng điều trị hạt nhân phóng xạ. Năm 2011, khoa chủ trì thành lập “Thyroid club”, phối hợp đa chuyên ngành với khoa Ngoại tuyến giáp, khoa Tai Mũi Họng, khoa Giải phẫu bệnh, khoa Siêu âm và khoa Y học hạt nhân, nhằm nâng cao trình độ chẩn đoán và điều trị bệnh tuyến giáp của bệnh viện. Với nỗ lực chung của “Thyroid club”, năm 2014 khoa triển khai chọc hút kim nhỏ tuyến giáp dưới hướng dẫn siêu âm; đến nay đã hoàn thành hơn 30.000 ca, tỷ lệ phù hợp với giải phẫu bệnh trên 90%. Năm 2019, khoa triển khai xét nghiệm phân tử tế bào từ mẫu chọc hút kim nhỏ tuyến giáp, tiếp tục nâng cao trình độ chẩn đoán và điều trị u tuyến giáp của bệnh viện. Năm 2021, khoa triển khai điều trị đốt sóng cao tần u tuyến giáp, hoàn thiện hệ thống chẩn đoán và điều trị nhân tuyến giáp, đồng thời nâng cao đáng kể năng lực chẩn đoán lành tính và ác tính cũng như trình độ chẩn đoán và điều trị tiêu chuẩn hóa nhân tuyến giáp tại bệnh viện. Khoa đã thực hiện nhiều công việc về điều trị bằng iốt 131 đối với bệnh tuyến giáp và triển khai kiểm tra độ hấp thu iốt của tuyến giáp. Việc mua sắm các thiết bị tiên tiến như máy phân chia iốt tự động đã nâng cao hiệu quả và độ an toàn điều trị. Hiện nay, khoa tiếp nhận hơn 5000 lượt người bệnh tuyến giáp mỗi năm và thực hiện điều trị bằng iốt 131 cho hơn 900 lượt. Khoa đã xây dựng hệ thống hồ sơ bệnh án và theo dõi điện tử tích hợp cho người bệnh tuyến giáp, tiếp tục tăng cường hiệu quả chẩn đoán và điều trị bệnh tuyến giáp. Việc triển khai thuận lợi các công việc trên đã thúc đẩy sự nâng cao toàn diện trình độ chẩn đoán và điều trị bệnh tuyến giáp của bệnh viện.
4. Phòng ngừa và điều trị loãng xương đạt hiệu quả rõ rệt: Từ cuối những năm 1980, khoa đã đi đầu trong tỉnh trong việc nghiên cứu loãng xương và ứng dụng vào dự phòng, điều trị lâm sàng. Khoa từng bước xây dựng hệ thống chẩn đoán và điều trị gồm phòng khám chuyên bệnh loãng xương, phòng đo mật độ xương và khu điều trị nội trú; tích lũy kinh nghiệm phong phú trong chẩn đoán và điều trị các bệnh xương chuyển hóa như loãng xương nguyên phát và thứ phát, bệnh tuyến cận giáp, nhuyễn xương giảm phosphat, bệnh tạo xương bất toàn, bệnh viêm xương biến dạng và bệnh xơ cứng xương. Khoa đi đầu trong tỉnh triển khai điều trị bệnh tạo xương bất toàn bằng bisphosphonate, điều trị bệnh viêm xương biến dạng bằng axit zoledronic, điều trị loãng xương sau mãn kinh bằng teriparatide và denosumab. Phòng đo mật độ xương hiện có 2 máy đo mật độ xương bằng tia X năng lượng kép và 1 máy đo mật độ xương bằng siêu âm, thực hiện gần 10.000 vị trí đo mật độ xương mỗi năm. Khoa coi trọng phổ biến học thuật và giáo dục người bệnh. Từ năm 2013 đến nay, khoa đã nhiều lần tổ chức các lớp đào tạo cấp quốc gia về bệnh xương chuyển hóa, thường xuyên tổ chức giáo dục người bệnh loãng xương và khám bệnh miễn phí, xây dựng nền tảng từ dự phòng, sàng lọc đến chẩn đoán và điều trị toàn diện, tiêu chuẩn hóa, quản lý theo dõi và nghiên cứu khoa học. Khoa cũng phối hợp với khoa Chấn thương chỉnh hình, khoa Thấp khớp, khoa Chẩn đoán hình ảnh, khoa Y học hạt nhân và khoa Lão khoa để cùng nâng cao trình độ chẩn đoán và điều trị loãng xương và bệnh chuyển hóa khoáng chất xương tại bệnh viện.
5. Bệnh tuyến yên và tuyến thượng thận: Chuyên ngành phụ về vùng hạ đồi-tuyến yên là một trong những nhánh chuyên môn quan trọng của khoa. Từ khi thành lập, khoa đã đi đầu trong tỉnh trong việc thành lập nhóm chẩn đoán và điều trị đa chuyên ngành (MDT) bệnh vùng hạ đồi-tuyến yên, lấy Khoa Nội tiết và Bệnh chuyển hóa và khoa Ngoại thần kinh làm nòng cốt, bao gồm các khoa liên quan như Giải phẫu bệnh, Chẩn đoán hình ảnh, Xạ trị, Mắt và Nội tiết sinh sản. Khoa triển khai phòng khám phối hợp đa chuyên ngành về bệnh vùng hạ đồi-tuyến yên, cùng xây dựng phương án chẩn đoán và điều trị cho các ca bệnh khó, phức tạp, khó điều trị hoặc tái phát, qua đó nâng cao đáng kể trình độ chẩn đoán và điều trị lâm sàng bệnh vùng hạ đồi-tuyến yên tại bệnh viện. Nhóm đã đi đầu trong tỉnh triển khai kỹ thuật lấy máu xoang đá dưới hai bên qua da để chẩn đoán phân biệt hội chứng Cushing, đồng thời tiêu chuẩn hóa các nghiệm pháp chức năng như nghiệm pháp ức chế hormone tăng trưởng bằng glucose, nghiệm pháp ức chế dexamethasone, nghiệm pháp ức chế somatostatin và nghiệm pháp nhịn nước-vasopressin. Khoa đã xây dựng đoàn hệ lâm sàng bệnh vùng hạ đồi-tuyến yên, bao gồm các bệnh như to đầu chi, bệnh Cushing, u sọ hầu và u tuyến yên không chức năng, đồng thời triển khai một loạt nghiên cứu cơ bản và lâm sàng. Hằng năm, khoa tổ chức các lớp đào tạo chẩn đoán và điều trị đa chuyên ngành bệnh vùng hạ đồi-tuyến yên cấp tỉnh hoặc cấp quốc gia, thúc đẩy phát triển chuyên ngành trong khu vực.
6. Tăng trưởng, phát triển và bệnh tuyến sinh dục: Sau nhiều năm thực hành lâm sàng, khoa đã hình thành đội ngũ chuyên môn về chẩn đoán và điều trị tăng trưởng, phát triển và chuyển hóa ở trẻ em, thanh thiếu niên, đồng thời mở phòng khám chuyên bệnh tăng trưởng và phát triển. Mục tiêu là phát hiện sớm nhất có thể những trẻ có bất thường về tăng trưởng, phát triển và chuyển hóa, hướng dẫn điều trị bằng phương pháp khoa học để trẻ phát triển khỏe mạnh. Hiện nay, khoa đã tích lũy nhiều kinh nghiệm trong nhiều bệnh lý, bao gồm thấp lùn, dậy thì sớm, chậm phát triển tuổi dậy thì, suy giảm chức năng tuyến sinh dục, béo phì ở thanh thiếu niên, phát triển tuyến vú ở nam giới, đái tháo đường ở thanh thiếu niên, bệnh tuyến giáp ở thanh thiếu niên và bất thường về chuyển hóa xương và phát triển ở thanh thiếu niên.
[Công tác và thành quả nghiên cứu khoa học]
Là khoa coi trọng cả lâm sàng và nghiên cứu khoa học, bên cạnh việc hoàn thành công tác chẩn đoán và điều trị hằng ngày, khoa còn tích cực triển khai nghiên cứu khoa học. Khoa hiện có 1 viện sĩ đồng tuyển dụng, 1 giáo sư đặc biệt thuộc chương trình Học giả Taishan và 1 nhân tài dẫn đầu ngành công nghiệp Taishan; có 17 người hướng dẫn nghiên cứu sinh, đã thành lập Trạm công tác của Viện sĩ Ning Guang và Xưởng đổi mới kỹ năng công nghệ cao của Chen Li. Khoa triển khai nghiên cứu khoa học xoay quanh các vấn đề trọng điểm như điều hòa tế bào gốc, chức năng và tái sinh tế bào đảo tụy, chuyển hóa và nhịp điệu đồng hồ sinh học. Trong 10 năm qua, khoa đã thực hiện hơn 90 đề tài các loại, bao gồm hơn 40 đề tài cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp bộ; trong đó tổng số đề tài Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia do các bác sĩ trẻ dưới 45 tuổi thực hiện là 20. Khoa đã đào tạo hơn 300 nghiên cứu sinh tiến sĩ và thạc sĩ, đạt 16 giải thưởng thành quả nghiên cứu khoa học, công bố hơn 400 bài báo trên các tạp chí uy tín như Nature, Cell Research, PNAS, Diabetes Care và Diabetes, trong đó có hơn 150 bài SCI. Khoa đã chủ biên hoặc tham gia biên soạn hơn 20 sách y học, tham gia xây dựng hơn 30 tiêu chuẩn chẩn đoán, hướng dẫn và quy phạm liên quan đến bệnh đái tháo đường của Trung Quốc. Trên cơ sở tích cực tìm tòi các thành quả mới, chuyên ngành còn chú trọng chuyển giao các thành quả nghiên cứu vào lâm sàng. Hiện nay, khoa hợp tác với nhiều cơ quan nghiên cứu và doanh nghiệp, triển khai chuyển giao, ứng dụng thành quả nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực như giao thoa y học-kỹ thuật, tích hợp y học-dữ liệu, hợp tác y học-doanh nghiệp và nghiên cứu phát triển trí tuệ nhân tạo. Khoa đã thành lập Trung tâm chuyển giao nghiên cứu lâm sàng tế bào gốc, Phòng thí nghiệm liên hợp tuyến tụy nhân tạo, Nền tảng chính xác về xét nghiệm gen và xét nghiệm khối phổ; đạt 3 Giải Nhì Tiến bộ Khoa học và Công nghệ tỉnh Sơn Đông, được phê duyệt 5 bản quyền phần mềm và nộp đơn xin cấp hoặc được cấp hơn 20 bằng sáng chế phát minh.
[Trao đổi và hợp tác học thuật] Khoa coi trọng sự phát triển bền vững của nhân lực. Khoa đã cử tổng cộng 15 lượt người đến học tập và trao đổi tại các cơ sở nổi tiếng quốc tế như Đại học Yale, Trung tâm Y tế Mayo, Trường Y Baylor, Đại học Florida và Đại học Sydney của Hoa Kỳ; hơn 10 cán bộ chuyên môn nòng cốt đã đến học tập nâng cao tại các bệnh viện hàng đầu trong nước như Bệnh viện Peking Union Medical College Bắc Kinh, Bệnh viện Ruijin Thượng Hải, Bệnh viện Huaxi Tứ Xuyên và Bệnh viện Nhân dân số 6 Thượng Hải. Các bác sĩ ở mọi cấp hằng năm đều tham gia định kỳ các hội nghị học thuật cấp cao trong nước và quốc tế; khoa mời các giáo sư nổi tiếng trong và ngoài nước làm giáo sư thỉnh giảng để hướng dẫn công tác lâm sàng và nghiên cứu khoa học; đã nhiều lần chủ trì tổ chức các hội nghị học thuật cấp quốc gia và cấp tỉnh. Trong đó, Diễn đàn Nội tiết Qilu và Lớp đào tạo tinh hoa dành cho bác sĩ tuyến đầu ngành Nội tiết đã được tổ chức liên tiếp bảy khóa và nhận được sự đánh giá cao nhất trí của các chuyên gia, đồng nghiệp trong và ngoài tỉnh.
Trong những năm gần đây, với sự hỗ trợ và giúp đỡ của bệnh viện và các khoa bạn, dưới sự lãnh đạo của người đứng đầu học thuật chuyên ngành là Giáo sư Chen Li, Khoa Nội tiết và Bệnh chuyển hóa đã đạt được bước phát triển vượt bậc. Chúng tôi sẽ luôn giữ vững phương châm của bệnh viện “Đạo làm nghề y bắt nguồn từ đức, chuyên môn phải hướng tới sự tinh thông”, nỗ lực xây dựng chuyên ngành Nội tiết và Bệnh chuyển hóa trở thành chuyên ngành hàng đầu trong nước.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn