Khoa Tiêu hóa
Giới thiệu khoa
Khoa Tiêu hóa, Bệnh viện trực thuộc số 1 của Đại học Y khoa An Huy, được thành lập vào năm 1989. Hiện nay, khoa đã phát triển thành một chuyên ngành bệnh tiêu hóa hiện đại, tích hợp khám chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học, có mức độ uy tín nhất định trong nước. Khoa Tiêu hóa là phân trung tâm tại tỉnh An Huy của Trung tâm Nghiên cứu Y học Lâm sàng Quốc gia về Bệnh hệ Tiêu hóa, là chuyên ngành trọng điểm của tỉnh An Huy, chuyên ngành trọng điểm phát triển lâm sàng của tỉnh An Huy, cơ sở được cấp phép đào tạo và cấp bằng tiến sĩ, thạc sĩ Nội khoa, đồng thời là trạm nghiên cứu sau tiến sĩ.
Khoa hiện có 172 nhân viên y tế, gồm 67 bác sĩ, 6 người hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ, 19 người hướng dẫn học viên cao học và 45 người có học vị tiến sĩ. Hiện khoa có 35 nghiên cứu sinh tiến sĩ và 57 học viên cao học đang theo học; trong đó có 11 bác sĩ trưởng, 20 bác sĩ phó trưởng và 23 bác sĩ điều trị. Nhân viên nghiên cứu và kỹ thuật viên có tổng cộng 1 người; ngoài ra có 104 điều dưỡng, gồm 6 điều dưỡng phó trưởng và 63 điều dưỡng phụ trách.
Khoa gồm 5 khu điều trị nội trú: Khu Tiêu hóa số 1, số 2 và số 3 tại cơ sở Gaoxin; Khu Tiêu hóa số 4 tại cơ sở đường Jixi; và Khu Tiêu hóa số 5 tại cơ sở phía Nam. Khoa cũng có 3 trung tâm nội soi: Trung tâm Nội soi Tiêu hóa đường Jixi, Trung tâm Nội soi Tiêu hóa Gaoxin và Trung tâm Nội soi Tiêu hóa cơ sở phía Nam.
Kỹ thuật thế mạnh
Khoa có 263 giường bệnh, mỗi năm tiếp nhận hơn 200.000 lượt khám ngoại trú, hơn 14.000 bệnh nhân điều trị nội trú và thực hiện hơn 100.000 thủ thuật nội soi.
Khoa thường quy triển khai các kỹ thuật chẩn đoán và điều trị thế mạnh sau: các phương pháp cầm máu qua nội soi; cắt polyp; ERCP; ESD; EUS-FNA; POEM; điều trị sỏi phân ruột thừa qua nội soi; thắt tĩnh mạch thực quản và phình tĩnh mạch đáy vị qua nội soi; gây xơ và nút mạch tĩnh mạch thực quản, đáy vị giãn qua nội soi; nội soi ruột non và rạch hẹp dưới nội soi ở bệnh nhân bệnh viêm ruột; chẩn đoán và điều trị chảy máu ruột non không rõ nguyên nhân bằng nội soi ruột non; cắt polyp ruột non bằng nội soi ruột non; lấy dị vật đường tiêu hóa; nong hẹp thực quản và đặt stent; nghiên cứu, chẩn đoán và điều trị các bệnh rối loạn chức năng và vận động đường tiêu hóa. Đặc biệt, bốn chuyên ngành sâu sau đây có những đặc điểm nổi bật:
★ Chẩn đoán và điều trị chính xác ung thư giai đoạn sớm: Khoa đã xây dựng hệ thống đánh giá chính xác ung thư giai đoạn sớm dựa trên nội soi nhuộm màu, nội soi NBI phóng đại và nội soi đồng tiêu bằng laser. Khoa thực hiện bóc tách dưới niêm mạc qua nội soi (ESD) và cắt niêm mạc qua nội soi (EMR) để cắt bỏ hoàn toàn các tổn thương sớm; đồng thời thực hiện ESD, ESE và EFR để điều trị u dưới niêm mạc và tổn thương lớp cơ riêng. Trong những năm gần đây, khoa đã phát hiện và điều trị một số lượng lớn tổn thương tiền ung thư đường tiêu hóa giai đoạn sớm, ung thư đường tiêu hóa giai đoạn sớm và u dưới biểu mô, bằng ESD và các phương pháp điều trị khác. Nhờ nhiều năm nghiên cứu và tích lũy kinh nghiệm, mỗi năm khoa điều trị gần 2.000 bệnh nhân. Khoa đã hình thành thế mạnh riêng trong sàng lọc, chẩn đoán và điều trị ung thư đường tiêu hóa giai đoạn sớm, đồng thời thúc đẩy toàn diện nghiên cứu về ung thư giai đoạn sớm.
★ Chẩn đoán và điều trị bệnh đường mật và tụy: Các tổn thương dạng khối ở đường mật và tụy có thể được sinh thiết hút kim nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm nội soi (EUS-FNA). Sỏi và hẹp lành tính ống mật chủ, cũng như sỏi và hẹp lành tính ống tụy, có thể được điều trị bằng lấy sỏi và đặt stent qua nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP); sỏi ống tụy còn có thể được điều trị bằng tán sỏi ngoài cơ thể bằng sóng xung kích. Tắc mật ác tính có thể được điều trị bằng sinh thiết và chải tế bào học dưới hướng dẫn ERCP, đặt stent nhựa hoặc stent kim loại dưới hướng dẫn ERCP, đốt u bằng sóng cao tần và các phương pháp khác. Sau phẫu thuật tái tạo đường tiêu hóa, có thể thực hiện ERCP dưới nội soi ruột non. Nang giả tụy được điều trị bằng nối nang-dạ dày dưới hướng dẫn của siêu âm nội soi và cắt lọc mô hoại tử tụy. Các phương pháp can thiệp dưới hướng dẫn siêu âm nội soi đối với tổn thương đường mật và ống tụy bao gồm dẫn lưu đường mật (EUS-BD), dẫn lưu ống tụy (EUS-PD), phong bế đám rối tạng dưới hướng dẫn siêu âm nội soi, đốt tổn thương nang tụy và nối dạ dày-ruột dưới hướng dẫn siêu âm nội soi (EUS-GE) cho tắc nghẽn đường tiêu hóa lành tính và ác tính. Khoa cũng thực hiện cắt u tuyến nhú tá tràng qua nội soi. Mỗi năm, hơn 1.000 bệnh nhân mắc bệnh đường mật và tụy phức tạp được điều trị chính xác. Xuất phát từ nhu cầu lâm sàng, khoa liên tục ứng dụng các kỹ thuật siêu ít xâm lấn tiên tiến và đạt thành tích nổi bật trong nghiên cứu lâm sàng, cơ bản và chuyển giao về bệnh đường mật và tụy.
★ Điều trị nội soi xơ gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa: Là đơn vị đầu mối của Nhóm Chẩn đoán và Điều trị Giãn tĩnh mạch thực quản và đáy vị tỉnh An Huy, khoa đã lâu dài tập trung vào chẩn đoán và điều trị bệnh nhân xơ gan, tăng áp lực tĩnh mạch cửa có xuất huyết ồ ạt do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản và đáy vị. Khoa có ưu thế kỹ thuật rõ rệt và thực hiện thắt hoặc gây xơ giãn tĩnh mạch thực quản và đáy vị qua nội soi cho hơn 600 ca mỗi năm. Là đơn vị dẫn đầu về điều trị nội soi giãn tĩnh mạch thực quản và đáy vị, trong những năm gần đây khoa không ngừng đổi mới kỹ thuật điều trị, bao gồm cấy coil dưới hướng dẫn siêu âm nội soi. Khoa triển khai nhiều chương trình đào tạo về điều trị nội soi giãn tĩnh mạch thực quản và đáy vị, đào tạo số lượng lớn chuyên gia điều trị nội soi trong toàn tỉnh. Những năm gần đây, nghiên cứu lâm sàng đã đạt được bước đột phá quan trọng, nâng cao rõ rệt hiệu quả điều trị nội soi. Các kết quả nghiên cứu đã nhiều lần được công bố trên các tạp chí nội soi hàng đầu như Endoscopy.
★ Chẩn đoán và điều trị bệnh viêm ruột và bệnh ruột non: Là trung tâm chẩn đoán và điều trị IBD khu vực cấp quốc gia và đơn vị đầu mối của Nhóm IBD tỉnh An Huy, khoa đã chủ trì thành lập Liên minh chuyên bệnh IBD tỉnh An Huy,推广 chẩn đoán và điều trị IBD theo tiêu chuẩn trong toàn tỉnh, mỗi năm chẩn đoán và điều trị hơn 3.000 bệnh nhân IBD. Khoa đã đổi mới triển khai tại Trung Quốc các kỹ thuật lâm sàng then chốt và tiên tiến về IBD, bao gồm nội soi ruột non trong IBD, điều trị hẹp qua nội soi ở bệnh nhân IBD kèm hẹp ruột non, siêu âm nội soi trong IBD và kỹ thuật đánh giá chính xác ruột bằng siêu âm qua thành bụng. Phối hợp với các nhóm đa chuyên khoa, khoa thực hiện chẩn đoán bệnh lý IBD theo tiêu chuẩn, chẩn đoán hình ảnh ruột non bằng CTE/MRE, điều trị tối ưu dựa trên theo dõi nồng độ thuốc ức chế miễn dịch và thuốc sinh học, cũng như truyền thuốc sinh học theo tiêu chuẩn. Chuyên ngành sâu này tập trung đổi mới phương pháp chẩn đoán và điều trị IBD, triển khai nhiều thử nghiệm lâm sàng và nghiên cứu lâm sàng chất lượng cao, góp phần nâng cao trình độ chẩn đoán và điều trị IBD tại tỉnh An Huy.
Các chương trình kỹ thuật thế mạnh và hướng phát triển trọng điểm: đánh giá chính xác trước phẫu thuật ung thư đường tiêu hóa giai đoạn sớm; xây dựng hệ thống ra quyết định chính xác sau điều trị nội soi ung thư đường tiêu hóa giai đoạn sớm; xây dựng và ứng dụng hệ thống quản lý ung thư đường tiêu hóa giai đoạn sớm trong toàn bộ vòng đời. Khoa ứng dụng các kỹ thuật chẩn đoán và điều trị tiên tiến đối với bệnh đường mật và tụy, tập trung nâng cao đổi mới phương pháp chẩn đoán và điều trị bằng ERCP đối với các loại u ác tính đường mật, cũng như điều trị can thiệp bệnh đường mật và tụy dưới hướng dẫn siêu âm nội soi. Khoa giữ vị trí dẫn đầu cấp tỉnh trong các lĩnh vực như quản lý toàn diện bệnh viêm ruột. Trình độ điều trị nội soi giãn tĩnh mạch thực quản và đáy vị thuộc nhóm dẫn đầu toàn quốc, với nhiều kỹ thuật đổi mới và nghiên cứu chuyển giao lâm sàng. Phạm vi kỹ thuật bao phủ toàn bộ các chương trình của chuyên khoa lâm sàng trọng điểm cấp quốc gia.
Danh hiệu của khoa
Khoa Tiêu hóa, Bệnh viện trực thuộc số 1 của Đại học Y khoa An Huy, là phân trung tâm tại tỉnh An Huy của Trung tâm Nghiên cứu Y học Lâm sàng Quốc gia về Bệnh hệ Tiêu hóa; chuyên ngành trọng điểm ưu tiên phát triển lâm sàng của tỉnh An Huy; chuyên ngành trọng điểm của các trường đại học tỉnh An Huy; đơn vị trực thuộc Trung tâm Kiểm soát Chất lượng Tiêu hóa tỉnh An Huy; đơn vị chủ trì Hội Nội soi Tiêu hóa thuộc Hội Y học An Huy; đơn vị chủ trì Phân hội Bác sĩ Nội soi Tiêu hóa thuộc Hội Bác sĩ An Huy; Đội Đổi mới Công nghiệp Anhui 115; Phòng thí nghiệm trọng điểm về Bệnh Tiêu hóa tỉnh An Huy; Trung tâm Thử nghiệm Lâm sàng Thuốc Quốc gia; cơ sở đào tạo nội soi tiêu hóa của Hội Bác sĩ Trung Quốc; một trong những trung tâm chẩn đoán và điều trị IBD khu vực cấp quốc gia đầu tiên; và là cơ sở được cấp phép đào tạo, cấp bằng thạc sĩ và tiến sĩ chuyên ngành bệnh tiêu hóa sớm nhất tại tỉnh An Huy. Với lịch sử phát triển 56 năm, đây là chuyên khoa tiêu hóa có quy mô lớn nhất tỉnh An Huy, tích hợp hoạt động lâm sàng, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Dựa trên Viện Nghiên cứu Bệnh Tiêu hóa An Huy và nhiều phòng thí nghiệm trọng điểm cấp tỉnh, chuyên ngành tập trung nghiên cứu cơ chế phát sinh u đường tiêu hóa, xơ hóa gan và hệ sinh thái vi sinh đường ruột. Trong những năm gần đây, khoa đã đảm nhiệm hàng chục dự án nghiên cứu cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp bộ, công bố hơn 100 bài báo SCI và nhận nhiều giải thưởng tiến bộ khoa học kỹ thuật cấp tỉnh. Khoa duy trì hợp tác lâu dài với các trường đại học và cơ sở y tế trong và ngoài nước, thúc đẩy chuyển giao các thành quả nghiên cứu vào thực tiễn.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn