Khoa Huyết học số 3
<Tổng quan chuyên ngành>
Khoa Huyết học, Bệnh viện Số 2 trực thuộc Đại học Y khoa Đại Liên, được thành lập năm 1991. Trải qua nỗ lực của nhiều thế hệ, tiêu biểu là các giáo sư ngành Huyết học Mao Yufang, Song Zhenlan, Lian Shimei và Yan Jinsong, khoa hiện đã phát triển thành cơ sở đào tạo và cấp bằng tiến sĩ, thạc sĩ ngành Nội khoa (Bệnh học máu) của Đại học Y khoa Đại Liên; cơ sở đào tạo bác sĩ nội trú theo quy chuẩn của Ủy ban Y tế và Sức khỏe; Trung tâm Y học Ghép tế bào gốc tạo máu tỉnh Liêu Ninh; Phòng thí nghiệm trọng điểm nghiên cứu y học chuyển dịch lâm sàng về ghép tế bào gốc tạo máu tỉnh Liêu Ninh; Viện Nghiên cứu Huyết học Diamond Bay; chuyên ngành y học trọng điểm cấp I của thành phố Đại Liên; và Phòng thí nghiệm trọng điểm về Bệnh máu thành phố Đại Liên. Khoa đồng thời là đơn vị thu thập tế bào gốc tạo máu của Ngân hàng Tủy xương Trung Quốc và Ngân hàng Tủy xương Từ Tế Đài Loan.
Khoa Huyết học có 5 phân chuyên khoa và 1 phòng thí nghiệm trọng điểm cấp tỉnh, với tổng cộng 14 buồng bệnh có hệ thống dòng khí tầng cấp 100 và 156 giường bệnh cố định. Các phân chuyên khoa gồm Huyết học 1 (Ghép tủy xương), Huyết học 2 (U lympho và u tủy), Huyết học 3 (Bệnh bạch cầu), Huyết học 4 (Bệnh hồng cầu và các bệnh xuất huyết, đông máu), Khoa Huyết học Diamond Bay (sau ghép tế bào gốc tạo máu và các bệnh máu tổng hợp), cùng Phòng thí nghiệm trọng điểm cấp tỉnh (phụ trách nghiên cứu chuyển dịch về tế bào gốc tạo máu và xét nghiệm gen bệnh máu). Hiện nay, khoa có 30 bác sĩ, hơn 90 điều dưỡng và 5 nhân viên phòng thí nghiệm; tất cả đều có trình độ từ thạc sĩ trở lên, trong đó 15 người có học vị tiến sĩ. Kể từ khi bắt đầu triển khai ghép tế bào gốc tạo máu vào năm 2014, khoa đã hoàn thành gần 600 ca ghép, với số ca ghép hằng năm vượt quá 100; số ca ghép đứng thứ nhất tại Liêu Ninh và thứ hai trong ba tỉnh Đông Bắc Trung Quốc. Kỹ thuật ghép chủ yếu là ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài, đồng thời triển khai ghép tế bào gốc tạo máu tự thân và ghép tế bào gốc tạo máu từ máu cuống rốn. Các bệnh được điều trị bao gồm nhiều loại bệnh máu, như bệnh bạch cầu, hội chứng rối loạn sinh tủy, thiếu máu bất sản nặng, u lympho và đa u tủy, bệnh di truyền bẩm sinh ở trẻ em, bệnh tăng sinh lympho-mô bào thực bào máu và xơ tủy.
Khoa Huyết học có năng lực nghiên cứu khoa học vững mạnh, thường quy triển khai các kỹ thuật chẩn đoán như di truyền tế bào, chẩn đoán gen và xét nghiệm miễn dịch. Khoa đã xây dựng các phương pháp kỹ thuật nghiên cứu như giải trình tự toàn bộ hệ phiên mã, phân tích hệ protein và mô hình chuột mang bệnh bạch cầu/u lympho có nguồn gốc người (PDX), đồng thời tiến hành nghiên cứu cơ chế phát sinh và cơ chế điều trị các bệnh ác tính về máu như bệnh bạch cầu, u lympho và u tủy. Khoa cũng nghiên cứu kỹ thuật ghép tủy xương lấy các gen dung hợp mới của bệnh bạch cầu làm dấu ấn phân tử mới để định hướng, đạt được nhiều thành quả nghiên cứu. Những năm gần đây, tỷ lệ nhân sự có học vị tiến sĩ của khoa vượt quá 50%. Khoa đảm nhiệm 8 đề tài của Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc, 1 đề tài nghiên cứu và phát triển trọng điểm của tỉnh Liêu Ninh, 8 đề tài thuộc Quỹ Khoa học Tự nhiên tỉnh Liêu Ninh và chương trình khởi động dành cho tiến sĩ, 1 dự án xây dựng lâm sàng trọng điểm về cải cách các bệnh viện trực thuộc tỉnh và 1 dự án đổi mới khoa học công nghệ thành phố Đại Liên, với tổng kinh phí tài trợ vượt quá 10 triệu nhân dân tệ; các thành viên nhóm đã công bố hơn 20 bài báo tiếng Anh, bài báo có hệ số ảnh hưởng cao nhất là 19, tổng hệ số ảnh hưởng cộng dồn lớn hơn 300.
Giữ vững tâm nguyện ban đầu, không ngừng nỗ lực tiến lên, Khoa Huyết học đã hình thành một đội ngũ y tế, điều dưỡng và nghiên cứu khoa học lấy ghép tủy xương/tế bào gốc tạo máu làm hướng lâm sàng trọng điểm, có đặc trưng phân chuyên khoa rõ nét và cơ cấu nhân sự hợp lý. Trong chẩn đoán và điều trị bệnh máu, khoa đã tiệm cận trình độ tiên tiến trong nước và có khả năng cung cấp dịch vụ y tế tốt cho người dân trong khu vực.
<Tổng quan chuyên khoa Huyết học 3>
Khoa Huyết học 3 (hướng bệnh bạch cầu) của Bệnh viện Số 2 trực thuộc Đại học Y khoa Đại Liên được thành lập vào tháng 6 năm 2013. Khoa triển khai chẩn đoán và điều trị bệnh bạch cầu theo quy chuẩn, hướng tới chẩn đoán và điều trị chính xác bệnh bạch cầu, đồng thời tiến hành nghiên cứu lâm sàng nhằm tìm hiểu các phác đồ điều trị mới. Trên nền tảng chẩn đoán và điều trị theo quy chuẩn, Khoa Huyết học 3 triển khai ghép tủy xương cho bệnh nhân bệnh bạch cầu kháng trị hoặc tái phát. Khoa phối hợp chặt chẽ với Khoa Huyết học 1, phụ trách điều trị trước khi ghép tủy xương và trong quá trình ghép. Khoa Huyết học 3 vừa là đơn vị khởi xướng, vừa là đơn vị hoàn tất công tác ghép tủy xương; phối hợp chặt chẽ với Khoa Huyết học 1 từ đầu đến cuối, trở thành lực lượng chủ lực trong triển khai ghép tủy xương/tế bào gốc tạo máu.
Tình hình cơ bản của khoa: hiện nay, khoa có 2 bác sĩ chủ nhiệm, 1 bác sĩ phó chủ nhiệm, 3 bác sĩ điều trị chính, 2 bác sĩ nội trú và 15 điều dưỡng.
<Phạm vi chẩn đoán và điều trị chuyên khoa>
Chẩn đoán và điều trị bệnh bạch cầu theo quy chuẩn, điều trị bệnh bạch cầu cá thể hóa, chẩn đoán và điều trị các biến chứng sau ghép tủy xương.
<Đặc điểm kỹ thuật chuyên khoa>
Công việc cốt lõi của Khoa Huyết học 3 là chẩn đoán và điều trị bệnh bạch cầu, đồng thời triển khai nghiên cứu khoa học liên quan đến bệnh bạch cầu. Khoa có 22 giường bệnh, được trang bị 16 giường bệnh vô khuẩn có hệ thống dòng khí tầng đơn giản. Khoa có Phòng thí nghiệm trọng điểm về Bệnh máu thành phố Đại Liên (hướng bệnh bạch cầu), triển khai chẩn đoán di truyền tế bào và chẩn đoán gen bệnh bạch cầu. Các đặc điểm kỹ thuật chuyên khoa chủ yếu gồm: 1) phân loại MICM và phân tầng nguy cơ bệnh bạch cầu; 2) điều trị bệnh bạch cầu theo quy chuẩn, như hóa trị liều trung bình và liều cao để điều trị bệnh bạch cầu hạt cấp; 3) điều trị bệnh bạch cầu lympho cấp ở người lớn bằng phác đồ dành cho trẻ em; 4) thiết kế phác đồ hóa trị mới để điều trị bệnh bạch cầu cấp kháng trị hoặc tái phát, đồng thời triển khai nghiên cứu lâm sàng; 5) khám sức khỏe trước ghép và đánh giá tình trạng ghép ở bệnh nhân ghép tủy xương; 6) huy động và thu thập tủy xương/tế bào gốc tạo máu từ người hiến tủy xương; 7) chẩn đoán, xử trí các biến chứng ở bệnh nhân sau ghép tủy xương và theo dõi định kỳ lâu dài. Khoa hiện đang triển khai hóa trị liều trung bình/cao cho bệnh bạch cầu tủy cấp dựa trên phân tầng gen và phân tử, qua đó rút ngắn thời gian điều trị vốn kéo dài 2-3 năm trước đây xuống còn 6-8 tháng; khoảng 40-60% bệnh nhân bệnh bạch cầu thuộc nhóm nguy cơ trung bình và thấp đạt được khỏi bệnh lâm sàng. Nghiên cứu lâm sàng về bệnh bạch cầu tiền tủy bào cấp đã rút ngắn thời gian điều trị loại bệnh bạch cầu này xuống còn 1 năm, với tỷ lệ khỏi bệnh đạt trên 95%. Trong quá trình phối hợp chặt chẽ với công tác ghép tủy xương, Khoa Huyết học 3 đã hình thành bản sắc chuyên khoa mang đậm tính chuyên môn y khoa; toàn thể nhân viên y tế và điều dưỡng của khoa sẽ tiếp tục cung cấp dịch vụ y tế chất lượng tốt cho bệnh nhân bệnh bạch cầu và bệnh nhân ghép tủy xương trong khu vực.
<Công tác khoa học và giáo dục chuyên khoa>
Tình hình nghiên cứu
Khoa đảm nhiệm 1 đề tài của Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc, đồng thời thực hiện nghiên cứu nhiều đề tài trọng điểm do Sở Giáo dục tỉnh Liêu Ninh, Quỹ Khoa học Tự nhiên tỉnh Liêu Ninh và các đơn vị khác tài trợ. Đã công bố hơn 10 bài báo, trong đó có hơn 10 bài thuộc danh mục SCI.
Công tác giảng dạy
Khoa đảm nhiệm công tác giảng dạy cho sinh viên đại học, học viên thạc sĩ, nghiên cứu sinh tiến sĩ và các bác sĩ đến đào tạo nâng cao, chú trọng dạy học phù hợp với năng lực từng người và đào tạo năng lực lâm sàng. Khoa đã đào tạo gần 40 học viên cao học bậc thạc sĩ.
<Mục tiêu và triết lý>
Bắc nhịp cầu giữa chẩn đoán và điều trị bệnh bạch cầu theo quy chuẩn với ghép tủy xương, để bệnh bạch cầu không còn là căn bệnh vô phương cứu chữa.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn