Tiết niệu
Tình hình khoa: Khoa Ngoại tiết niệu có 48 giường bệnh được bố trí, trung bình mỗi năm điều trị hơn 1300 lượt người, thực hiện hơn 1000 ca phẫu thuật, trong đó có 600 ca phẫu thuật cấp độ 3 và 4. Khoa có 9 bác sĩ, gồm 2 bác sĩ trưởng khoa, 1 bác sĩ phó trưởng khoa, 4 bác sĩ điều trị và 2 bác sĩ nội trú; đội ngũ điều dưỡng có 21 người, gồm 2 điều dưỡng trưởng, 14 điều dưỡng viên và 5 hộ lý; đội ngũ sau tiến sĩ và học viên sau đại học có 10 người, gồm 3 tiến sĩ sau tiến sĩ đang công tác, 2 nghiên cứu sinh tiến sĩ và 4 học viên cao học. Khoa thành lập các nhóm công tác khác nhau để phân công, phối hợp; hiện bao phủ nhiều bệnh như u tiết niệu, sỏi, dị tật hệ tiết niệu trẻ em, ngoại tiết niệu nữ, nam khoa và đau vùng chậu mạn tính; đã hình thành chuyên ngành tổng hợp với thế mạnh là ứng dụng kỹ thuật phẫu thuật theo lớp qua nội soi ổ bụng, tạo hình dị tật hệ tiết niệu trẻ em và điều trị toàn diện sỏi tiết niệu. Dựa trên giải phẫu học theo lớp và ngoại khoa theo lớp, khoa thúc đẩy ứng dụng phẫu thuật phục hồi nhanh (ERAS), lấy phẫu thuật bụng–chậu–tầng sinh môn phức tạp, khó và hệ thống ERAS làm hướng phát triển; trên nền tảng chất lượng y tế không ngừng nâng cao, khoa đã rút ngắn thời gian nằm viện và phục hồi của người bệnh. Khoa hiện đã triển khai phòng khám liên hợp đa chuyên khoa (MDT) cho bệnh khó và u ác tính tiết niệu, tích lũy kinh nghiệm phong phú trong chẩn đoán điều trị u ác tính, hội chẩn và điều trị bệnh lý khó. Đặc điểm chẩn đoán điều trị: (1) Nhóm điều trị toàn diện u tiết niệu. Nhóm công tác điều trị toàn diện u tiết niệu chủ yếu phụ trách chẩn đoán điều trị chuẩn hóa các bệnh ác tính liên quan đến tuyến thượng thận, thận, niệu quản, bàng quang, tuyến tiền liệt và hệ sinh dục nam. Kết hợp quan niệm phẫu thuật theo lớp, trên cơ sở phác đồ phẫu thuật chuẩn hóa vốn có đối với u tiết niệu, nhóm cải tiến kỹ thuật, tối ưu hóa lớp đường vào phẫu thuật và toàn bộ quy trình. Phối hợp với Khoa Nội tiết triển khai cơ chế chẩn đoán điều trị u tuyến thượng thận, cung cấp chẩn đoán điều trị hiệu quả và chuẩn hóa hơn. Khoa triển khai các đổi mới kỹ thuật phẫu thuật u tiết niệu, như phẫu thuật ung thư thận vùng rốn thận bảo tồn đơn vị thận qua nội soi ổ bụng, phẫu thuật cắt triệt căn thận và niệu quản qua nội soi ổ bụng ở một tư thế, phẫu thuật cắt triệt căn ung thư tuyến tiền liệt qua nội soi ổ bụng, phẫu thuật cắt triệt căn ung thư bàng quang qua nội soi ổ bụng, phẫu thuật tạo bàng quang mới tại chỗ bằng hồi tràng/đại tràng sigma và các phẫu thuật phức tạp khác, điều trị ngoại khoa u ác dương vật, tinh hoàn và các phẫu thuật phức tạp như nạo vét hạch sau phúc mạc qua nội soi ổ bụng. (2) Nhóm điều trị sỏi tiết niệu theo phác đồ toàn diện. Nhóm chủ yếu triển khai chẩn đoán điều trị chuẩn hóa sỏi tiết niệu, xây dựng hệ thống chẩn đoán điều trị tích hợp bệnh sỏi niệu. Bao gồm giáo dục dự phòng và phổ biến kiến thức về sỏi tiết niệu, quy trình cấp cứu nhiễm khuẩn huyết nguồn gốc tiết niệu liên quan đến sỏi, hệ thống theo dõi sau điều trị sỏi tiết niệu và điều trị ngoại khoa sỏi niệu hiện nay. Số ca phẫu thuật hằng năm trên 200, giúp đông đảo người dân giải quyết đau đớn do sỏi niệu. Nếu người bệnh mắc bệnh lành tính đường tiết niệu hoặc tắc nghẽn hệ tiết niệu do bệnh ác tính không thuộc hệ tiết niệu, Khoa Ngoại tiết niệu của bệnh viện cũng triển khai các phẫu thuật trong ngày như điều trị ngoại khoa phì đại tuyến tiền liệt lành tính, bóc u tuyến tiền liệt bằng plasma và bóc u tuyến tiền liệt bằng laser thulium. (3) Nhóm điều trị ngoại tiết niệu trẻ em. Nhóm chủ yếu triển khai chẩn đoán điều trị chuẩn hóa dị tật bẩm sinh hệ tiết niệu trẻ em và bệnh liên quan đến u. Kết hợp ứng dụng ERAS ở người bệnh nhi phẫu thuật, triển khai phẫu thuật trong ngày qua nội soi ổ bụng cho tràn dịch màng tinh, tinh hoàn ẩn, chỉnh sửa dương vật ẩn. Cung cấp phác đồ điều trị toàn diện thận ứ nước trẻ em: tạo hình bể thận qua nội soi ổ bụng ở trẻ nhũ nhi để điều trị tắc nghẽn chỗ nối bể thận–niệu quản; cắm lại niệu quản qua nội soi ổ bụng để điều trị hẹp hoặc trào ngược chỗ nối niệu quản–bàng quang; cắt thận trên/thận dưới của thận đôi qua nội soi ổ bụng để điều trị thận đôi mất chức năng; phẫu thuật sỏi thận, niệu quản, bàng quang trẻ em và các phương pháp khác. Phối hợp hóa trị nhi khoa cung cấp phác đồ chẩn đoán điều trị toàn diện u trẻ em, hoàn thành phẫu thuật cắt triệt căn u Wilms, cắt triệt căn u cơ vân bàng quang qua nội soi ổ bụng và tạo bàng quang mới tại chỗ. Xây dựng phác đồ quản lý điều trị suốt quá trình rối loạn phát triển giới tính trẻ em; điều trị chỉnh sửa dị tật bẩm sinh như lỗ tiểu thấp nằm hàng đầu trong nước; đã hoàn thành gần 100 ca phẫu thuật lỗ tiểu thấp trẻ em tại Bệnh viện Nhân dân số 1 Kashgar, Tân Cương. (4) Nhóm cắt toàn bộ tạng chậu và tái tạo sàn chậu. Nhóm chủ yếu xử lý các ca khó gồm u tiến triển tại chỗ vùng chậu có hoặc không kèm áp xe chậu, tổn thương lành tính vùng chậu và rò phức tạp. Nhóm xây dựng phác đồ cá thể hóa cho các người bệnh này, thực hiện cắt toàn bộ tạng chậu, loại bỏ ổ bệnh, tái tạo chuyển lưu, đóng sàn chậu, dẫn lưu vùng mổ, tiếp đó là phục hồi và điều trị hỗ trợ, kéo dài thời gian sống và cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống. Năng lực nghiên cứu và thành quả đặc thù: Khu điều trị luôn hướng tới xây dựng khoa nghiên cứu, tiến hành nghiên cứu cơ bản và cơ bản ứng dụng xoay quanh hướng lâm sàng chủ đạo; lực lượng nòng cốt phân công rõ ràng, bổ trợ ưu thế, hỗ trợ lẫn nhau, tạo không khí nghiên cứu cùng tiến bộ. Trong 3 năm gần đây, khoa công bố hơn 10 bài SCI (trên các tạp chí Cell Death Disease, Urology, Cancer Management Research và các tạp chí khác). Chủ trì 5 đề tài Quỹ Khoa học Tự nhiên tỉnh Quảng Đông, tổng kinh phí nghiên cứu 1,55 triệu nhân dân tệ. Những năm gần đây, đội ngũ điều dưỡng xây dựng quy trình phục hồi nhanh ERAS chuẩn hóa gồm 3 giai đoạn và 10 bước, đã áp dụng cho chẩn đoán điều trị toàn bộ loại bệnh phẫu thuật tiết niệu; công tác phục hồi ERAS của khoa đã được đưa vào chương trình đào tạo điều dưỡng chuyên khoa Ngoại tiết niệu tỉnh Quảng Đông, là cơ sở đào tạo điều dưỡng chuyên khoa.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn