Huyết học
Khoa Huyết học Bệnh viện Đại học Bắc Kinh Thâm Quyến được thành lập năm 2002, được phê duyệt là chuyên khoa trọng điểm của bệnh viện vào năm 2005, và năm 2007 được Bộ Y tế cấp tư cách tiếp nhận bệnh nhân với vai trò là bệnh viện ghép tế bào gốc tạo máu từ người hiến không cùng huyết thống. Khoa có đủ tư cách thực hiện ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài theo quy chuẩn quản lý kỹ thuật hạn chế của quốc gia, đồng thời là đơn vị ghép tế bào gốc tạo máu từ người hiến không cùng huyết thống được ủy quyền của Ngân hàng Tủy xương Trung Quốc và Ngân hàng Tủy xương Từ Tế Đài Loan. Năm 2016, dựa vào Dự án “Ba danh” y tế và sức khỏe của thành phố Thâm Quyến, khoa đã thu hút đội ngũ bệnh lý huyết học do Viện sĩ Hoàng Hiểu Quân của Viện Nghiên cứu Bệnh máu, Đại học Bắc Kinh dẫn đầu. Năm 2022, “Trung tâm Nghiên cứu Bệnh máu Lý An Trân” được thành lập. Năm 2025, khoa được phê duyệt là dự án xây dựng chuyên khoa lâm sàng trọng điểm của tỉnh Quảng Đông.
Quy mô và đội ngũ của khoa Hiện khoa có 52 nhân viên y tế và điều dưỡng, cùng 6 nhân viên nghiên cứu chuyên trách. Có 19 bác sĩ lâm sàng, trong đó gồm 3 bác sĩ trưởng, 5 phó bác sĩ trưởng và 7 bác sĩ điều trị. Khoa có 7 người trình độ tiến sĩ và 9 người trình độ thạc sĩ; 3 bác sĩ là người hướng dẫn học viên cao học thạc sĩ. Khoa Huyết học gồm khu điều trị bệnh máu, khu điều trị ban ngày và khu ghép. Khoa có 78 giường đang hoạt động, gồm 60 giường thường, 8 giường khu điều trị ban ngày và 10 giường phòng dòng khí tầng lớp cấp 100. Khu điều trị có 12 giường dòng khí tầng lớp đơn giản và 2 phòng đơn đặc biệt độc lập, được trang bị trạm làm việc di động khử khuẩn không khí. Các cơ sở này cung cấp môi trường bảo vệ toàn diện cho bệnh nhân suy giảm chức năng miễn dịch nghiêm trọng, bao gồm bệnh nhân bệnh bạch cầu, thiếu máu bất sản và bệnh nhân sau ghép tế bào gốc tạo máu, qua đó giảm tỷ lệ nhiễm trùng. Khu bệnh còn có phòng tách tế bào máu, được trang bị 3 máy tách tế bào máu, trong đó có các hệ thống tiên tiến như Fresenius COM.TEC và Terumo Spectra Optia. Phòng thí nghiệm trung tâm của bệnh viện được trang bị máy ly tâm siêu tốc, máy đọc vi đĩa đa chức năng, hệ thống phát hiện tương tác phân tử, hệ thống quét tiêu bản kỹ thuật số, máy chiếu xạ động vật nhỏ, máy vi-CT, máy X-quang động vật nhỏ, hệ thống tạo ảnh in vivo động vật nhỏ, kính hiển vi đồng tiêu laser, máy tạo ảnh high-content, hệ thống đồng cắt vi thể bằng laser, kính hiển vi huỳnh quang, máy đo tế bào dòng chảy Beckman CoulterCytoFLEX, hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao cùng các thiết bị và cơ sở hạ tầng khác. Khoa đã xây dựng ngân hàng mẫu sinh học bệnh máu có hệ thống, gồm tủy xương, máu ngoại vi, mô và các mẫu khác.
Đặc điểm chẩn đoán và điều trị chuyên khoa Khoa mở các phòng khám chuyên bệnh về bệnh bạch cầu, u tủy, u lympho, ghép tế bào gốc tạo máu và thử nghiệm lâm sàng thuốc mới. Đây là đơn vị đầu tiên trong thành phố triển khai mô hình điều trị ban ngày cho bệnh nhân u tủy và u lympho. Lấy ba bệnh thế mạnh là bệnh bạch cầu, u lympho và u tủy làm trọng tâm, đồng thời lấy hai kỹ thuật tiên tiến là ghép tế bào gốc tạo máu và liệu pháp miễn dịch tế bào mới, bao gồm liệu pháp miễn dịch tế bào T mang thụ thể kháng nguyên dạng khảm CAR-T, làm động lực, khoa đang tích cực phát triển chuyên ngành. Khoa đã xây dựng nền tảng chẩn đoán và điều trị chính xác trong toàn bộ quá trình bệnh đối với bệnh bạch cầu, u tủy và u lympho, bao gồm hệ thống chẩn đoán chính xác và phân tầng tiên lượng. Các phương pháp được sử dụng gồm huyết thanh học, hình thái học tế bào, đo dòng chảy tế bào, tế bào học bệnh lý, kỹ thuật chẩn đoán bệnh lý phân tử, PETCT và các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác, di truyền học và các kỹ thuật khác. Dựa trên phân loại phân tử, phân giai đoạn lâm sàng và các chỉ số tiên lượng quốc tế, khoa đã xây dựng mô hình phân tầng tiên lượng hoàn chỉnh. Thông qua phối hợp đa chuyên khoa, khoa thiết lập hệ thống chẩn đoán và điều trị phối hợp sớm đối với chẩn đoán bệnh và các bệnh khó điều trị liên chuyên khoa, cung cấp chẩn đoán và điều trị toàn diện, tối ưu cho bệnh nhân, đặc biệt là người cao tuổi, bệnh nhân nguy kịch, có nhiều bệnh kèm và biến chứng, hoặc tình trạng phức tạp. Nhóm đa chuyên khoa hệ tạo máu và bạch huyết thường quy thực hiện các điều trị toàn diện, gồm sinh thiết bệnh lý mô và cơ quan dưới hướng dẫn của siêu âm B hoặc CT; sinh thiết kim hạch trung thất và khối u phổi dưới nội soi phế quản sợi quang; sinh thiết khối u phổi bằng nội soi lồng ngực ít xâm lấn; siêu lọc liên tục tại giường bệnh; thay huyết tương điều trị; phẫu thuật giải ép trong chèn ép tủy sống cấp; phẫu thuật ít xâm lấn PKP thân đốt sống do u tủy; xạ trị u tương bào của u lympho; chụp hình PETCT bằng đồng vị phóng xạ và đầu dò mới đối với u tủy và bệnh amyloid; điều trị biến chứng đa hệ thống sau hóa trị; bảo tồn chức năng buồng trứng và khả năng sinh sản ở phụ nữ trước hóa trị; dược lâm sàng và hướng dẫn dinh dưỡng. Khoa thực hiện chăm sóc liên tục, nhân văn cho bệnh nhân, đồng thời xây dựng chiến lược điều trị cá thể hóa và kế hoạch quản lý toàn bộ chu kỳ bệnh cho từng người bệnh.
Giới thiệu kỹ thuật chẩn đoán và điều trị 1. Kỹ thuật ghép tế bào gốc tạo máu: Từ năm 2002, dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Quách Nãi Lan, chuyên gia nổi tiếng của Đại học Bắc Kinh, khoa đã thực hiện ca ghép tế bào gốc tạo máu đầu tiên và hiện đã làm chủ nhiều loại kỹ thuật ghép, gồm ghép từ người hiến cùng huyết thống hoàn toàn phù hợp, ghép bán hòa hợp HLA không hoàn toàn phù hợp, ghép đồng loài từ người hiến không cùng huyết thống và ghép máu cuống rốn từ người hiến không cùng huyết thống. Đến nay, khoa đã hoàn thành hơn 400 ca ghép tế bào gốc tạo máu các loại. Trong đó, ghép bán hòa hợp là loại khó nhất, tỷ lệ trong tổng số ca ghép tăng dần và hiện vượt quá 55%. Năm 2017, thông qua Dự án “Ba danh” của Thâm Quyến, khoa đã thu hút đội ngũ của Viện sĩ Hoàng Hiểu Quân thuộc Viện Nghiên cứu Bệnh máu, Đại học Bắc Kinh. Dưới sự dẫn dắt của ông, khoa đã tích lũy kinh nghiệm kỹ thuật phong phú về ghép bán hòa hợp độ khó cao; tỷ lệ sống không bệnh sau ghép bán hòa hợp tiệm cận trình độ tiên tiến trong nước. Năm 2024, khoa đã thực hiện thành công 2 ca ghép bán hòa hợp cho bệnh nhân bệnh bạch cầu cấp trên 70 tuổi. Các bệnh được điều trị bằng ghép đã mở rộng từ bệnh bạch cầu nguy cơ cao ban đầu sang bệnh bạch cầu kháng trị hoặc tái phát, u lympho, đa u tủy, hội chứng rối loạn sinh tủy, thiếu máu bất sản nặng và các bệnh lành tính, ác tính khác của hệ tạo máu. 2. Liệu pháp miễn dịch tế bào mới: Khoa đã xây dựng nền tảng và hệ thống điều trị tế bào, tập trung vào nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các kỹ thuật điều trị tế bào tiên tiến. Khoa triển khai điều trị CAR-T với đích mới, điều trị CAR-T kép đích phối hợp, ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài làm cầu nối sau CAR-T, nghiên cứu chuyển giao từ cơ bản sang lâm sàng, qua đó xây dựng mô hình hỗ trợ nghiên cứu đổi mới phối hợp. Hệ thống nghiên cứu và ứng dụng lâm sàng bao phủ toàn bộ quy trình từ thu thập, trữ đông, xét nghiệm tế bào đến truyền trả và quản lý sau truyền. 3. Khoa đã thực hiện thành công nhiều nghiên cứu lâm sàng đầu tiên trên thế giới và trong nước, tổng cộng đã điều trị gần 80 bệnh nhân bệnh máu, nâng cao đáng kể danh tiếng và năng lực kỹ thuật trong điều trị bệnh máu kháng trị. Khoa đã đạt được nhiều đột phá điều trị đầu tiên trên thế giới. Khoa hoàn thành thành công liệu pháp tế bào CAR-T đầu tiên trên thế giới đối với u lympho tế bào T da, hội chứng Sézary; tế bào khối u của bệnh nhân được loại bỏ hoàn toàn trong vòng 28 ngày. Khoa cũng hoàn thành thành công liệu pháp tế bào CAR-T kép đích phối hợp CD19/BCMA đầu tiên trên thế giới, đồng thời đạt được chữa khỏi lâm sàng u lympho tế bào B lớn lan tỏa và lupus ban đỏ hệ thống kháng trị. Thành quả được trình bày tại Hội nghị thường niên của Hội Huyết học Hoa Kỳ ASH và dưới dạng các bài báo khoa học, thu hút sự quan tâm của giới học thuật quốc tế. Những năm gần đây, khoa đã khám phá mô hình điều trị ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài làm cầu nối sau điều trị bằng tế bào CART đối với bệnh máu ác tính tái phát, kháng trị. Khoa đã điều trị bệnh nhân bệnh bạch cầu hoặc u lympho tái phát, kháng trị; số ca và tỷ lệ thành công thuộc nhóm dẫn đầu khu vực, đem lại hy vọng điều trị triệt căn cho nhiều bệnh nhân bệnh máu nguy cơ cao và kháng trị. Trung tâm Điều trị Tế bào của bệnh viện là đơn vị đầu tiên tại Thâm Quyến được cấp tư cách quốc gia là “Cơ sở nghiên cứu lâm sàng tế bào gốc”. Đây là đơn vị xây dựng nền tảng công cộng lớn và dự án chuyên đề về công nghệ cốt lõi của ngành dược sinh học thuộc Ủy ban Phát triển và Cải cách thành phố Thâm Quyến, đồng thời được phê duyệt là Dự án kỹ thuật trọng điểm về công nghệ nghiên cứu lâm sàng tế bào gốc của Thâm Quyến. Trung tâm có phòng kiểm nghiệm chất lượng chế phẩm tế bào, tức Trung tâm Kiểm nghiệm Chung Chất lượng Tế bào, và sở hữu các nền tảng nghiên cứu cấp cao như nền tảng tế bào gốc và liệu pháp sinh học tế bào, hướng tới xây dựng hệ thống nghiên cứu lâm sàng hoàn chỉnh từ nghiên cứu và phát triển, chuyển giao đến ứng dụng. Khoa thường quy triển khai nhiều liệu pháp CAR-T, như liệu pháp kháng CD19, CD5, CD7, cùng kháng thể đặc hiệu kép, đồng thời khám phá phối hợp tối ưu với hóa trị truyền thống và điều trị đích. Khoa Huyết học là đơn vị điều trị tế bào được cấp phép tại khu vực Hoa Nam, bao phủ các sản phẩm tế bào CAR T đã lưu hành trong nước: 阿基仑赛注射液, 瑞基奥仑赛注射液, 伊基奥仑赛注射液, 纳基奥仑赛注射液, 泽沃基奥仑赛注射液 và các sản phẩm khác. Khoa đã tích lũy kinh nghiệm phong phú trong điều trị lâm sàng và quản lý liệu pháp tế bào, thu hút nhiều bệnh nhân khó và phức tạp từ ngoài khu vực đến khám. Hoạt động nghiên cứu và thực hành thành công của khoa trong lĩnh vực điều trị tế bào có vai trò dẫn dắt và làm mô hình quan trọng trong khu vực. Trong tương lai, lấy bệnh nhân làm trung tâm, khoa sẽ nỗ lực xây dựng Trung tâm Chẩn đoán và Điều trị Bệnh máu khu vực tại thành phố Thâm Quyến, tỉnh Quảng Đông, tích hợp y tế, đào tạo và nghiên cứu, nhằm cung cấp cho bệnh nhân dịch vụ chẩn đoán và điều trị trình độ cao.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn
Bác sĩ
Hồ sơ bác sĩ: 3
孟庆祥
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Chẩn đoán và điều trị các bệnh huyết học, đặc biệt bệnh bạch cầu và bệnh thiếu máu.
庞丽萍
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Đọc thêm
Chuyên môn: chẩn đoán và điều trị mọi loại bệnh bạch cầu, u lympho và u tủy; chẩn đoán, điều trị thiếu máu bất sản cấp và mạn tính và đái huyết sắc tố kịch phát về đêm (PNH); chẩn đoán, điều trị ban xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn và ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối. Đặc biệt thành thạo: 1. Điều trị bệnh bạch cầu tái phát hoặc kháng trị. 2. Điều trị u lympho tái phát hoặc kháng trị. 3. Điều trị u tủy tái phát hoặc kháng trị. 4. Điều trị ban xuất huyết giảm tiểu cầu kháng trị. Chú trọng điều trị toàn diện và cá thể hóa.