Cấy ghép nha khoa
1. KHÁI QUÁT VỀ KHOA
Trung tâm Cấy ghép Răng miệng, Bệnh viện trực thuộc Đại học Thanh Đảo, là phòng khám cấy ghép răng miệng tổng hợp lớn nhất khu vực Bán đảo, đồng thời là nơi đặt trụ sở của Ủy ban Chuyên môn Cấy ghép Răng miệng thuộc Hội Nha khoa Thanh Đảo. Khoa Cấy ghép Răng miệng của bệnh viện chúng tôi là đơn vị Ủy viên Thường vụ của Ủy ban Chuyên môn Cấy ghép thuộc Hội Nha khoa Trung Quốc, đơn vị Phó Chủ nhiệm của Ủy ban Chuyên môn Cấy ghép thuộc Hội Nha khoa tỉnh Sơn Đông và đơn vị Chủ nhiệm của Ủy ban Chuyên môn Cấy ghép thuộc Hội Nha khoa Thanh Đảo. Phòng khám cấy ghép đã đưa vào sử dụng các hệ thống cấy ghép răng hàng đầu quốc tế, có phòng phẫu thuật cấy ghép tiêu chuẩn hóa và đi đầu trong triển khai nhiều kỹ thuật, hạng mục mới về cấy ghép răng. Các bác sĩ cấy ghép răng lần lượt đến Đức, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Hồng Kông và các quốc gia, khu vực khác để được đào tạo chuyên môn có hệ thống và nghiêm ngặt. Khoa có thế mạnh về kỹ thuật phục hình implant bằng các hệ thống implant khác nhau, kỹ thuật tăng thể tích xương khi thiếu xương ổ răng, kỹ thuật nâng xoang hàm, kỹ thuật cấy ghép răng tái tạo bằng ghép xương chậu và xương mác sau khuyết xương hàm, kỹ thuật cấy ghép tức thì và phục hình tức thì cùng các kỹ thuật khác. Trong gần 20 năm kể từ khi thành lập, phòng khám cấy ghép đã điều trị phục hình implant thành công cho hàng nghìn bệnh nhân; bệnh nhân đến từ Hoa Kỳ, Canada, Australia, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và các quốc gia, khu vực khác, đạt được kết quả lâm sàng rất hài lòng và nhận được đánh giá cao từ người bệnh. Trung tâm Cấy ghép của bệnh viện chúng tôi đã được xếp vào hàng các phòng khám cấy ghép răng hàng đầu trong nước.
2. ĐỘI NGŨ NHÂN LỰC
Qua nhiều năm đầu tư cho công tác đào tạo nhân lực, chuyên ngành này đã không ngừng nâng cao chất lượng và sức mạnh trong xây dựng đội ngũ, phát triển thành một đội ngũ y tế, giảng dạy và nghiên cứu khoa học trình độ cao, đầy đủ chuyên môn, với người đứng đầu chuyên ngành làm hạt nhân lãnh đạo và lấy đông đảo cán bộ kỹ thuật nòng cốt trẻ, trung niên có trình độ cao làm lực lượng chủ chốt. Việc bố trí nhân viên y tế có thể đáp ứng nhu cầu công việc và phát triển. Hiện nay chuyên ngành có 9 bác sĩ chuyên trách, trong đó 2 người có chức danh chuyên môn cao cấp, 3 người có bằng tiến sĩ, 3 người có bằng thạc sĩ và 1 người có bằng cử nhân; xu hướng trẻ hóa của đội ngũ thể hiện rõ rệt và có thể đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của khoa. Có 2 người hướng dẫn học viên cao học. Cơ cấu nhân lực của chuyên ngành được phân bố hợp lý; các nhà lãnh đạo học thuật đang ở độ tuổi sung sức, 3 chuyên ngành trọng điểm đều có quyền cấp bằng thạc sĩ, đồng thời mỗi chuyên ngành đều có ủy viên trong nhóm chuyên môn toàn quốc và là đơn vị trưởng nhóm chuyên môn tỉnh Sơn Đông; năng lực tổng thể đạt trình độ tiên tiến trong cả nước. Có 4 điều dưỡng chuyên trách và 2 kỹ thuật viên; cơ cấu tuổi, chức danh và trình độ học vấn của đội ngũ điều dưỡng, kỹ thuật viên tương đối hợp lý, số lượng và chất lượng nhân sự đáp ứng yêu cầu triển khai công tác khám chữa bệnh của khoa.
3. ĐẶC ĐIỂM CHUYÊN MÔN LÂM SÀNG
Dưới sự lãnh đạo của Giáo sư Zhao Baodong, Trưởng chuyên ngành, và sự dẫn dắt của các cán bộ nòng cốt học thuật thuộc 5 hướng chuyên môn lớn gồm phẫu thuật implant, phục hình implant, nha chu implant và kỹ thuật labo implant, các thành viên trong khoa lấy trình độ tiên tiến quốc tế của các lĩnh vực tương đồng làm chuẩn tham chiếu, tập trung nâng cao trình độ kỹ thuật lâm sàng, tận dụng tối đa các ưu thế về nhân lực, thiết bị và kỹ thuật của bệnh viện, tối ưu hóa quy trình khám chữa bệnh, dùng các hướng chuyên môn thế mạnh để thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của các hướng khác. Khoa đã đạt được những đột phá trong một số hướng nghiên cứu trọng điểm như cấy ghép tức thì, nâng xoang hàm trong và ngoài, cấy ghép khi thiếu thể tích xương, phục hình toàn sứ, cấy ghép ở bệnh nhân bệnh nha chu và tái lập chức năng khớp cắn sau phẫu thuật u vùng hàm mặt; năng lực xử lý các ca khó, ca nặng được tăng cường đáng kể. Khoa đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng y tế cùng các quy định của khoa, quản lý nghiêm ngặt việc thực hiện các quy định và quy trình kỹ thuật, quy định rõ kỹ thuật tương ứng mà bác sĩ ở từng cấp trong khoa cần nắm vững. Đặc biệt chú trọng đào tạo và rèn luyện kỹ thuật cốt lõi của khoa cho các bác sĩ trẻ và trung niên, đồng thời hoàn thiện chế độ đánh giá, bảo đảm họ nắm vững năng lực lâm sàng liên quan và định kỳ kiểm tra chất lượng dịch vụ y tế của khoa. Đồng thời tăng cường quản lý chất lượng y tế, đẩy mạnh kiểm soát chất lượng theo từng bệnh, coi trọng việc tạo ra thành quả nghiên cứu khoa học, nâng cao tầm ảnh hưởng và mức độ nổi tiếng của khoa trong nước và quốc tế.
(1) CHUYÊN MÔN PHẪU THUẬT CẤY GHÉP RĂNG MIỆNG
Cấy ghép răng thường quy, cấy ghép răng tức thì, cấy ghép khi thiếu thể tích xương, cấy ghép cho hàm mất răng, cấy ghép ở bệnh nhân bệnh nha chu, tái lập khớp cắn sau phẫu thuật khối u và các phẫu thuật khó, tái tạo chức năng khác. Kỹ thuật cấy ghép tức thì, kỹ thuật nâng xoang hàm trong và ngoài, kỹ thuật GBR, phục hình hàm phủ trên implant cho hàm mất răng, trụ phục hình toàn sứ zirconia tự chế tạo và kỹ thuật phục hình thẩm mỹ implant toàn sứ vùng răng trước đều ở trình độ dẫn đầu quốc tế; điều trị tổng hợp u miệng, sửa chữa và tái tạo khuyết hổng xương và mô mềm hàm mặt, cấy ghép răng và phục hình răng giả cùng các kỹ thuật khác đạt trình độ tiên tiến trong nước. Trong đó, “Tái tạo khuyết xương hàm dưới bằng vạt mô phức hợp có xương mác” được triển khai đầu tiên trong nước và đã nhận Giải Ba của Bộ Y tế. Phẫu thuật tạo xương bằng kéo giãn xương hàm dưới và phẫu thuật cấy ghép răng tức thì là các kỹ thuật mới được triển khai trong 2 năm qua, mang lại lợi ích lớn cho việc bảo tồn chức năng ở bệnh nhân ung thư miệng, sửa chữa thẩm mỹ và chức năng dị tật thiểu hàm, cũng như phục hình cấy ghép tức thì cho răng bị mất; các kỹ thuật này đang ở vị trí dẫn đầu tỉnh Sơn Đông.
(2) CHUYÊN MÔN NHA CHU IMPLANT
Đây là khoa chuyên môn chuyên trách cấy ghép cho bệnh nhân bệnh nha chu và chẩn đoán, điều trị bệnh nha chu sau cấy ghép, là một trong những khoa nha chu có quy mô lớn trong tỉnh, có quan niệm điều trị nha chu hệ thống và điều trị tổng hợp tiên tiến, đồng thời sở hữu các phương pháp điều trị nha chu cơ bản hàng đầu quốc tế.
(3) CHUYÊN MÔN PHỤC HÌNH IMPLANT RĂNG MIỆNG VÀ LABO KỸ THUẬT
Khoa Phục hình răng hiện đã triển khai phục hình hàm phủ trên implant cho hàm mất răng, phục hình attachment chính xác trên implant, phục hình răng giả implant toàn sứ, các phục thể, khí cụ chỉnh âm sau phẫu thuật khe hở vòm miệng và các loại mão, cầu răng kim loại-sứ trên implant.
(4) KỸ THUẬT CẤY GHÉP TỨC THÌ VÀ PHỤC HÌNH TỨC THÌ
Cấy ghép tức thì là việc đặt implant nhân tạo ngay sau khi nhổ răng. Về thời điểm đặt implant sau nhổ răng, cách phân loại được đồng thuận hiện nay chia thành 4 loại; cấy ghép tức thì là loại thứ nhất, được định nghĩa là đặt implant ngay sau khi nhổ răng. Loại thứ hai và loại thứ ba có thể được xếp vào cấy ghép sớm sau nhổ răng. Thời điểm cấy ghép loại thứ tư còn được gọi là cấy ghép muộn. Cùng với sự phát triển của kỹ thuật implant và việc không ngừng cải tiến thiết kế hình thể cũng như xử lý bề mặt implant, nhiều nghiên cứu trong hơn 10 năm qua cho thấy, nếu lựa chọn chỉ định nghiêm ngặt, cấy ghép tức thì có kết quả gần tương tự với cấy ghép vào sống hàm đã lành. Hiện nay, kỹ thuật cấy ghép tức thì và phục hình tức thì đã được ứng dụng thành công trên lâm sàng, mang lại cho bệnh nhân mất răng một lựa chọn tốt hơn để phục hình răng đã mất, với các ưu điểm: không cần chờ vết thương nhổ răng lành mà có thể phục hình ngay, sớm khôi phục chức năng nhai, giảm số lần phẫu thuật và rút ngắn đáng kể thời gian điều trị; đặt ngay vật liệu ghép xương hoặc chân răng nhân tạo sau khi nhổ răng có thể phòng ngừa hiệu quả tiêu xương ổ răng, tránh tình trạng teo do không sử dụng xảy ra sau nhổ răng, làm giảm mất xương đến mức thấp nhất; dựa theo hướng của chân răng ban đầu, implant dễ được đặt vào vị trí lý tưởng hơn, phần mão răng dễ phối hợp hài hòa với răng kế cận, hình thành đường cong tự nhiên và nhú lợi rõ rệt, vừa tăng tính thẩm mỹ vừa đạt được sự nâng đỡ mô mềm tối đa, đồng thời bảo tồn chiều cao và chiều rộng của xương ổ răng.
(5) NÂNG XOANG HÀM BẰNG PHƯƠNG PHÁP KHOAN ĐĨA
Các phương pháp nâng xoang hàm được chia thành 2 loại: nâng xoang ngoài và nâng xoang trong. So với nâng xoang ngoài, nâng xoang trong có thể đơn giản hóa các bước phẫu thuật, giảm sang chấn phẫu thuật và biến chứng sau phẫu thuật, tiết kiệm vật liệu ghép xương, giảm nguy cơ nhiễm trùng và chi phí điều trị. Dụng cụ chủ yếu được sử dụng trong phẫu thuật nâng xoang trong là khoan đĩa do đơn vị tự nghiên cứu phát triển. Khoan đĩa cắt bản xương đáy xoang để tạo thành mảnh xương dạng đĩa, đồng thời nhờ tác dụng của áp lực bột xương được đưa vào để nâng đáy xoang hàm trên; không cần mở cửa sổ thành bên, không cần gõ búa, từ đó giảm sang chấn phẫu thuật và biến chứng sau phẫu thuật, giảm rõ rệt đau đớn cho người bệnh. Phẫu thuật nâng xoang trong bằng phương pháp khoan đĩa kết hợp đặt implant đồng thời là một kỹ thuật an toàn, ít xâm lấn, thao tác đơn giản và ít gây đau cho bệnh nhân, có thể được sử dụng hiệu quả trong phục hình implant cho bệnh nhân mất răng vùng sau hàm trên, RBH không đủ, với kết quả lâm sàng ngắn hạn và dài hạn hài lòng.
(6) KỸ THUẬT All-on-four
Đội ngũ do Giáo sư Zhao Baodong, Trưởng khoa Cấy ghép Răng miệng, dẫn đầu đã kết hợp hình ảnh y khoa 3D, thiết kế có sự hỗ trợ của máy tính và công nghệ in 3D để hoàn thành ca phẫu thuật implant “All-on-4” đầu tiên tại Thanh Đảo cho bệnh nhân mất răng toàn hàm, giúp điều trị cho bệnh nhân cấy ghép theo hướng chính xác, cá thể hóa, ít xâm lấn và tiết kiệm, đạt trình độ dẫn đầu trong nước. Phẫu thuật implant “All-on-4” là phương thức phục hình hoàn toàn mới, chỉ sử dụng 4 implant để khôi phục chức năng nhai cho bệnh nhân mất răng toàn hàm. Trong đó, 2 implant được đặt thẳng đứng vào vùng răng trước, 2 implant còn lại được đặt vào vùng răng sau với góc không quá 45°. Các implant đặt nghiêng có thể tránh những cấu trúc giải phẫu quan trọng như lỗ cằm hoặc xoang hàm trên, tận dụng đầy đủ lượng xương còn lại, tăng diện tích tiếp xúc giữa implant và mô xương, nâng cao đáng kể độ an toàn của phẫu thuật. Ngay cả khi lượng xương cực ít vẫn có thể đạt được hiệu quả nâng đỡ xương tối ưu, cho phép sử dụng phục hình sau cùng lên đến 12 đơn vị và khôi phục hoàn toàn chức năng nhai của bệnh nhân. Việc ứng dụng kỹ thuật “All-on-4” mang lại hy vọng cho bệnh nhân mất răng toàn hàm có khuyết xương nghiêm trọng, không thể áp dụng phương thức phục hình truyền thống và không chấp nhận ghép xương tự thân.
(7) THIẾT KẾ VÀ CHẾ TẠO IMPLANT CÓ HỖ TRỢ ĐỊNH VỊ MÁY TÍNH
Máng hướng dẫn phẫu thuật được thiết kế và chế tạo bằng máy tính, cùng với định vị implant không lật vạt có hỗ trợ, có thể đặt implant chính xác vào vị trí được thiết kế trước phẫu thuật; máng được làm thủ công trên mô hình răng-hàm do máy tính chế tạo cũng có thể được sử dụng trong phục hình implant cho bệnh nhân teo xương ổ răng. Kỹ thuật này có ưu thế kỹ thuật khá rõ rệt và triển vọng ứng dụng rộng rãi trong điều trị bệnh nhân teo xương ổ răng, thiếu chiều rộng xương có thể sử dụng. Đội ngũ do Giáo sư Zhao Baodong của Trung tâm Cấy ghép Răng miệng dẫn đầu đã kết hợp hình ảnh y khoa 3D, thiết kế có sự hỗ trợ của máy tính và công nghệ in 3D để hoàn thành ca “phẫu thuật implant phức tạp ở hàm mất răng có định vị hỗ trợ máy tính” đầu tiên của tỉnh Sơn Đông, thực hiện điều trị chính xác, cá thể hóa và ít xâm lấn cho bệnh nhân điều trị implant.
4. THÀNH QUẢ GIẢNG DẠY VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Khoa chúng tôi đã tăng cường đầu tư cho công tác giảng dạy, nâng cao trình độ giảng dạy trên nhiều phương diện, mở rộng và hoàn thiện hệ thống đào tạo chuẩn hóa, khoa học cho sinh viên y khoa lâm sàng bậc đại học và học viên cao học, tạo nền tảng vững chắc cho việc đào tạo nhân tài đạt chuẩn; tiếp tục tăng cường nhận thức về chất lượng và đổi mới, tập trung nâng tầm và nâng cao trình độ, đồng thời coi trọng công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học; đi sâu tìm hiểu việc ứng dụng hợp lý phương pháp giảng dạy song ngữ và giảng dạy số. Khoa chúng tôi đảm nhiệm đào tạo bậc đại học của Trường Y, Đại học Thanh Đảo (bao gồm phần khoa học răng miệng của lớp Y khoa lâm sàng hệ 7 năm, lớp Răng Hàm Mặt hệ 5 năm và lớp đại học Hình ảnh học), đào tạo sinh viên quốc tế đến từ Đông Nam Á, cũng như đào tạo sau đại học về lâm sàng nha khoa và nghiên cứu cơ bản nha khoa, bao gồm giảng dạy lý thuyết lâm sàng, kiến tập và thực tập. Về đào tạo sau đại học, có 2 người hướng dẫn học viên cao học. Các trọng điểm đào tạo học viên cao học hệ khoa học và trọng điểm đào tạo học viên cao học hệ chuyên môn được lượng hóa, cụ thể hóa; định kỳ tổ chức hội nghị công tác học viên cao học và hội nghị công tác người hướng dẫn, đúng thời hạn tổ chức các buổi giảng chuyên đề lâm sàng cho học viên cao học và học viên bồi dưỡng, tăng cường triển khai công tác giảng dạy song ngữ.
Khoa đảm nhiệm các chương trình lớp bồi dưỡng giáo dục thường xuyên cấp quốc gia, nhiều lần tổ chức hội nghị implant nha khoa quốc tế và trong nước, nhiều lần được mời tham dự các hội nghị học thuật quốc tế và trong nước, tiến hành giao lưu học thuật và phát biểu tại hội nghị, nhận được đánh giá cao của đồng nghiệp trong và ngoài nước. Đã công bố gần 40 bài báo trên các tạp chí nòng cốt trong và ngoài nước, nhiều bài được SCI lập chỉ mục. Đã nhận 4 Giải Tiến bộ Khoa học và Công nghệ tỉnh Sơn Đông, 4 Giải Tiến bộ Khoa học và Công nghệ thành phố Thanh Đảo, 2 Giải Tiến bộ Khoa học và Công nghệ Đại học Thanh Đảo, được các ủy ban khoa học và công nghệ cấp tỉnh, thành phố tài trợ 5 dự án và đã nộp 1 đơn đăng ký sáng chế.
5. ĐIỀU KIỆN TRANG THIẾT BỊ
Hệ thống Kodak 9000 3D kết hợp hoàn hảo 3 công nghệ gồm chụp toàn cảnh, chụp sọ và chụp ba chiều, có thể thực hiện chụp toàn cảnh, chụp sọ và chụp ba chiều tiên tiến, cung cấp chất lượng hình ảnh tối ưu và là công cụ chẩn đoán lý tưởng, hoàn chỉnh. Ưu điểm gồm: hệ thống Kodak 9000 3D có bộ phát tần số cao, bề mặt cong có tiêu cự điều chỉnh được, chức năng đo sọ bằng “một lần chụp” và chức năng chụp ba chiều có độ phân giải cực cao; có hình ảnh độ phân giải cao, có thể hiển thị rõ nét các chi tiết của từng răng; phơi nhiễm bức xạ liều thấp, liều trung bình cần cho một lần kiểm tra ba chiều tương đương với việc phơi nhiễm ánh sáng mặt trời tự nhiên trong 1-3 ngày, liều này thấp hơn 10-30 lần so với liều phơi nhiễm của các hệ thống 3D cùng loại khác; dễ sử dụng, định vị bệnh nhân nhanh chóng và chính xác, có thể hoàn thành kiểm tra ba chiều động trong vòng 2 phút và hiển thị toàn bộ thông tin cần thiết; phạm vi ứng dụng lâm sàng rất rộng, bao gồm: bệnh mô cứng răng và tủy răng, cấy ghép răng, phẫu thuật, chỉnh nha, đánh giá gãy xương và bệnh quanh chóp cũng như đánh giá khớp thái dương hàm. Hệ thống Kodak 9000 3D có chức năng mạnh và toàn diện, vận hành chính xác, an toàn và đơn giản. Hệ thống máy cấy ghép răng hầu như có thể đáp ứng nhu cầu cấy ghép răng của các nhóm bệnh nhân khác nhau; tay khoan tuabin và bẩy nhổ răng ít xâm lấn có thể thực hiện nhổ răng ít xâm lấn, nhổ răng không đau.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn
Bác sĩ
Hồ sơ bác sĩ: 2
王艳辉
Bác sĩ ở ngạch phó chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Chuyên cấy ghép implant tức thì và phục hình tức thì; thành thạo các kỹ thuật cấy ghép kèm ghép xương, phục hình implant cho hàm mất răng và nhổ răng phức tạp ít xâm lấn.
赵保东
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Đọc thêm
Chuyên kỹ thuật phục hình trên implant với nhiều hệ thống khác nhau, ghép tăng thể tích xương ổ răng khi thiếu xương, nâng xoang hàm trên, tái tạo cấy ghép răng bằng xương chậu và xương mác sau khuyết hổng xương hàm, cấy implant và phục hình tức thì, cũng như nhổ răng ngầm, răng mọc ngầm khó và phức tạp.