Khoa Tiêu hóa
1. Tổng quan khoa
Khoa Tiêu hóa được thành lập năm 1990 trên cơ sở nhóm chuyên môn tiêu hóa của Khoa Nội trước đây. Hiện nay, khoa là chuyên khoa lâm sàng trọng điểm của tỉnh Sơn Đông, ngành trọng điểm của thành phố Thanh Đảo, chuyên ngành đặc sắc của Đại học Thanh Đảo và ngành được bệnh viện ưu tiên phát triển. Đây là trung tâm toàn diện kết hợp điều trị lâm sàng, nghiên cứu và giảng dạy về chẩn đoán, điều trị và nghiên cứu các bệnh tiêu hóa. Năm 2013, khoa được bình chọn là một trong “Mười khoa hàng đầu” của bệnh viện; năm 2014 được bình chọn là “Khoa có tiềm năng phát triển lớn nhất”; năm 2015 nhận “Giải thưởng Thành tựu nổi bật trong xây dựng ngành” trong giai đoạn Kế hoạch 5 năm lần thứ 12. Khoa được bố trí tại ba cơ sở Thị Nam, Lao Sơn và Hoàng Đảo, có 100 giường bệnh đang hoạt động, mỗi năm tiếp nhận hơn 260.000 lượt khám ngoại trú, hơn khoảng 4.600 lượt điều trị nội trú và hơn khoảng 35.000 ca chẩn đoán, điều trị bằng nội soi. Hiện khoa có đội ngũ học thuật với chất lượng tổng thể tốt, trình độ kỹ thuật cao và cơ cấu hợp lý. Những năm gần đây, theo nhu cầu phát triển ngành, khoa chú trọng đào tạo nhiều “chuyên gia phân ngành” có thế mạnh lâm sàng riêng. Với sự nỗ lực của toàn thể nhân viên, Khoa Tiêu hóa đã đạt bước phát triển vượt bậc về quy mô và sự phát triển của khoa, dịch vụ y tế, cơ cấu chuyên môn, trình độ học thuật, đào tạo nhân lực và trang thiết bị y tế, đồng thời đạt được những thành tựu đáng kể trong khám chữa bệnh, giảng dạy, nghiên cứu và các lĩnh vực khác.
2. Cơ cấu nhân lực
Khoa Tiêu hóa có nguồn nhân lực vững mạnh và đã phát triển thành một tập thể y tế, giảng dạy và nghiên cứu trình độ cao, đầy đủ các chuyên ngành, đứng đầu là các giảng viên hướng dẫn nghiên cứu sinh và lấy nhiều cán bộ kỹ thuật trẻ, trung niên có trình độ cao làm nòng cốt. Hiện khoa có tổng cộng 48 bác sĩ, gồm 7 bác sĩ trưởng khoa, 10 phó trưởng khoa, 21 bác sĩ điều trị và 10 bác sĩ nội trú. Trong đó có 23 người có học vị tiến sĩ và 22 người cũng có học vị tiến sĩ; tỷ lệ người có học vị tiến sĩ hoặc thạc sĩ trở lên đạt 93,8%. Tỷ lệ người có chức danh chuyên môn trung cấp hoặc cao cấp là 79,2%. Trong đó có 3 giảng viên hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ và 9 giảng viên hướng dẫn học viên cao học. Khoa đã thiết lập quan hệ hợp tác tốt với Bệnh viện Changhai thuộc Đại học Y khoa Thượng Hải số 2, Bệnh viện Xijing thuộc Đại học Quân y số 4, Bệnh viện Hữu nghị Bắc Kinh thuộc Đại học Y Capital, Bệnh viện Peking Union Medical College, Bệnh viện Renji trực thuộc Trường Y Đại học Giao thông Thượng Hải, Đại học Y khoa Fukui của Nhật Bản, Khoa Y Đại học Kobe và các cơ sở nổi tiếng khác trong và ngoài nước, tạo ra không gian phát triển bên ngoài thuận lợi. Những năm gần đây, nhiều cán bộ đã được cử đến các cơ sở nói trên để đào tạo nâng cao và học tập; một số người đã hoàn thành đào tạo và trở về, tạo nền tảng bảo đảm cho sự phát triển lâu dài, bền vững của ngành.
Đội ngũ khu điều trị nội trú Thị Nam
Đội ngũ khu điều trị nội trú Lao Sơn
Đội ngũ khu điều trị nội trú Bờ Tây
3. Đặc điểm chuyên môn
Khoa Tiêu hóa lấy 5 hướng nghiên cứu chính làm thế mạnh, gồm “chẩn đoán và điều trị ung thư đường tiêu hóa giai đoạn sớm”, “chẩn đoán và điều trị can thiệp các bệnh đường mật và tuyến tụy bằng ERCP”, “chẩn đoán và điều trị các bệnh rối loạn vận động đường tiêu hóa”, “chẩn đoán và điều trị sớm ung thư gan”, và “điều trị toàn diện, hỗ trợ dinh dưỡng cho viêm tụy nặng”. Khoa có khả năng chẩn đoán và điều trị nhiều bệnh lý tiêu hóa khó và nặng.
(1) Chẩn đoán và điều trị ung thư đường tiêu hóa giai đoạn sớm: Có thể triển khai sàng lọc ung thư dạ dày cho nhóm nguy cơ cao, như xét nghiệm và phân loại nhiễm Helicobacter pylori, xét nghiệm pepsinogen và gastrin huyết thanh. Có thể sử dụng nội soi nhuộm màu/hình ảnh dải tần hẹp (NBI) kết hợp nội soi phóng đại để nâng cao tỷ lệ chẩn đoán ung thư giai đoạn sớm của đường tiêu hóa (thực quản, dạ dày và đại tràng). Sử dụng các kỹ thuật như EMR (cắt niêm mạc qua nội soi), ESD (bóc tách dưới niêm mạc qua nội soi) để điều trị xâm lấn tối thiểu ung thư đường tiêu hóa giai đoạn sớm và tổn thương tiền ung thư, đạt hiệu quả điều trị triệt căn khối u; trình độ chẩn đoán và điều trị thuộc nhóm dẫn đầu trong tỉnh và tiên tiến trong nước.
(2) Điều trị xâm lấn tối thiểu qua nội soi đối với bệnh đường mật–tụy và tổn thương niêm mạc, dưới niêm mạc đường tiêu hóa: Khoa có thể thực hiện nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP), cắt cơ vòng nhú tá tràng (EST), đặt stent ống tụy và đường mật, dẫn lưu mật qua mũi và các kỹ thuật khác, giúp nhiều bệnh nhân mắc bệnh đường mật và tuyến tụy tránh phải phẫu thuật. Các thủ thuật này có ưu điểm là ít sang chấn, chi phí thấp và thời gian nằm viện ngắn. Khoa là một trong những đơn vị sớm triển khai tiêm keo mô vào giãn tĩnh mạch đáy vị, thắt giãn tĩnh mạch thực quản bằng vòng, tiêm chất gây xơ để điều trị xuất huyết do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản và giãn tĩnh mạch đáy vị ở bệnh nhân xơ gan. Ngoài ra, siêu âm nội soi và kỹ thuật chọc hút kim nhỏ có ưu thế riêng trong chẩn đoán và điều trị u dưới niêm mạc đường tiêu hóa, viêm tụy và ung thư tuyến tụy. POEM (cắt cơ qua nội soi đường miệng điều trị co thắt tâm vị), STER (cắt u qua nội soi bằng đường hầm dưới niêm mạc) và EFTR (cắt toàn bộ chiều dày thành qua nội soi), là các kỹ thuật điều trị xâm lấn tối thiểu qua nội soi mới được phát triển trong những năm gần đây, đã đạt trình độ dẫn đầu trong tỉnh.
(3) Chẩn đoán và điều trị xâm lấn tối thiểu bệnh gan: Khoa là một trong những đơn vị sớm triển khai sinh thiết gan dưới hướng dẫn siêu âm hoặc CT, dẫn lưu áp xe gan bằng chọc hút, dẫn lưu nang gan bằng chọc hút, tiêm cồn tuyệt đối và các kỹ thuật khác. Có thể sử dụng đốt nhiệt bằng sóng cao tần (RFA) dưới hướng dẫn siêu âm hoặc CT và thiết bị siêu âm hội tụ cường độ cao. Phối hợp với Khoa X-quang can thiệp, khoa thực hiện các phương pháp điều trị không phẫu thuật ung thư gan như đốt bằng sóng cao tần hoặc vi sóng, hóa tắc động mạch gan qua ống thông (TACE), qua đó kéo dài thời gian sống của người bệnh.
(4) Chẩn đoán và điều trị bệnh rối loạn vận động dạ dày–ruột, dinh dưỡng đường ruột và ngoài đường ruột: Khoa là một trong những đơn vị sớm triển khai theo dõi nhu động đường tiêu hóa, đo pH thực quản 24 giờ và các kỹ thuật khác. Khoa đạt trình độ dẫn đầu trong tỉnh về chẩn đoán và điều trị các bệnh tiêu hóa chức năng, rối loạn vận động, đặc biệt trong nghiên cứu liệt dạ dày do đái tháo đường và hội chứng ruột kích thích (IBS). Thông qua việc thực hiện nghiên cứu đa trung tâm toàn quốc về nguy cơ dinh dưỡng, khoa tiếp tục chuẩn hóa hỗ trợ dinh dưỡng đường ruột, ngoài đường ruột và điều trị hỗ trợ dinh dưỡng cho các bệnh nặng như viêm tụy nặng, từ đó cải thiện hiệu quả tiên lượng người bệnh và giảm tỷ lệ tử vong. Khoa cũng tham gia xây dựng “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm tụy cấp” của Nhóm Bệnh học tuyến tụy thuộc Hội Tiêu hóa Trung Quốc, Hiệp hội Y khoa Trung Quốc.
4. Kỹ thuật y tế
Khoa triển khai nhiều kỹ thuật điều trị xâm lấn tối thiểu qua nội soi như ERCP, ESD, EUS, POEM, cùng với kỹ thuật TACE, đốt sóng cao tần (RFA) và đốt vi sóng điều trị ung thư gan. Hiện khoa có trung tâm chẩn đoán và điều trị nội soi được trang bị hiện đại, đồng thời là đơn vị đầu tiên tại thành phố Thanh Đảo triển khai nhiều kỹ thuật chẩn đoán và điều trị liên quan, gồm bóc tách dưới niêm mạc qua nội soi (ESD), lấy u bằng nội soi (ESE), cắt toàn bộ chiều dày tổn thương qua nội soi (EFR), cắt tổn thương qua đường hầm dưới niêm mạc bằng nội soi (STER) và POEM. Trình độ kỹ thuật cũng như số ca đã thực hiện đều thuộc nhóm dẫn đầu tỉnh Sơn Đông. Các phương pháp điều trị xâm lấn tối thiểu qua nội soi này có ưu điểm ít sang chấn, hồi phục nhanh và chi phí thấp, giúp nhiều bệnh nhân ung thư đường tiêu hóa giai đoạn sớm và u dưới niêm mạc tránh được phẫu thuật mở ổ bụng. Tháng 7 năm 2015, trung tâm đào tạo nội soi tổng hợp đầu tiên trong tỉnh, đặt tại tòa nhà khoa học–giáo dục thuộc cơ sở Bờ Tây của bệnh viện, đã đi vào hoạt động, tạo nền tảng vững chắc cho công tác đào tạo bác sĩ chẩn đoán và điều trị nội soi tiêu hóa trình độ cao trong tương lai.
5. Nghiên cứu và giảng dạy
Khoa nghiêm túc thực hiện chiến lược “phát triển y tế bằng khoa học và công nghệ”, theo đuổi đổi mới nghiên cứu. Năm 2010, khoa được phê duyệt là cơ sở đào tạo nghiên cứu sinh tiến sĩ. Hiện khoa có 1 giảng viên đồng hướng dẫn sau tiến sĩ, 3 giảng viên hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ và 8 giảng viên hướng dẫn học viên cao học. Những năm gần đây, khoa đã đào tạo gần 100 học viên tốt nghiệp tiến sĩ và thạc sĩ, đồng thời đảm nhiệm công tác giảng dạy và thực tập lâm sàng nhiều cấp độ cho sinh viên đại học, chương trình 7 năm và lưu học sinh Nam Á của Trường Y thuộc Đại học Thanh Đảo. Trong thời gian thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ 12, khoa đã tổ chức 6 hội nghị đào tạo thường xuyên cấp quốc gia và cấp tỉnh, 8 hội nghị tiêu hóa và nội soi tiêu hóa cấp tỉnh và thành phố; mời hơn 10 chuyên gia nước ngoài và gần 30 chuyên gia trong nước đến bệnh viện giảng bài. Từ năm 2011 đến năm 2016, đội ngũ của khoa tham gia dự án hợp tác quốc tế “Nghiên cứu châu Á về nhiễm Helicobacter pylori và phòng ngừa ung thư dạ dày”, với sự tham gia của 5 quốc gia châu Á. Trong 5 năm gần đây, khoa đã đảm nhiệm hơn 10 đề tài thuộc Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc và các đề tài cấp tỉnh hoặc cấp bộ, công bố hơn 100 bài báo trên các tạp chí cốt lõi trong và ngoài nước, nhận 4 giải thưởng tiến bộ khoa học và công nghệ y học cấp tỉnh và thành phố, đồng thời chủ biên hoặc tham gia biên soạn nhiều chuyên khảo y học.
6. Hướng dẫn khám chữa bệnh
(1) Vị trí khoa
Khu khám ngoại trú, cơ sở Thị Nam: Tầng 4, Tòa nhà Khám bệnh
Cơ sở Lao Sơn: Tầng 2, Khu A
Cơ sở Bờ Tây: Tầng 2, Trung tâm Bệnh lý ổ bụng
Khu điều trị nội trú, cơ sở Thị Nam: Tầng 5, Khu Điều trị nội trú số 1
Cơ sở Lao Sơn: Tầng 5, Khu A
Cơ sở Bờ Tây: Tầng 11, Tòa B
(2) Điện thoại tư vấn
Cơ sở Thị Nam: 82911303
Cơ sở Lao Sơn: 82913151
Cơ sở Bờ Tây: 82919631
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn
Bác sĩ
Hồ sơ bác sĩ: 16
丁雪丽
Bác sĩ ở ngạch phó chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
1. Viêm loét đại tràng, bệnh Crohn và các bệnh đường ruột khác; 2. dinh dưỡng ngoài đường ruột và qua đường ruột; 3. siêu âm nội soi; 4. các bệnh khó và phức tạp.
刘希双
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Chẩn đoán và điều trị nội soi các bệnh đường tiêu hóa.
原皓
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Chẩn đoán và điều trị bệnh tiêu hóa như viêm dạ dày, viêm ruột, xơ gan; chẩn đoán nội soi và điều trị ít xâm lấn bệnh đường tiêu hóa.