Thấp khớp học
Giới thiệu khoa
Khoa Thấp khớp của Bệnh viện Y học cổ truyền Trung Hoa thành phố Hạ Môn được thành lập vào đầu những năm 1990. Năm 2012, khoa trở thành đơn vị xây dựng chuyên khoa trọng điểm cấp quốc gia, đồng thời là một trong các chuyên khoa y tế trọng điểm đợt thứ tư của thành phố Hạ Môn. Dưới sự lãnh đạo của Trưởng khoa, bác sĩ trưởng Chen Jinchun, Khoa Thấp khớp đã phát triển vượt bậc trong những năm gần đây, trở thành chuyên khoa trọng điểm của Cục Quản lý Y học cổ truyền Trung Hoa Quốc gia và chuyên khoa trọng điểm của thành phố Hạ Môn. Hiện nay khoa có 30 giường bệnh và 13 bác sĩ, trong đó có 4 người mang chức danh chuyên môn cao cấp, 1 người hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ và 3 người hướng dẫn nghiên cứu sinh thạc sĩ. Với lực lượng kỹ thuật vững mạnh, khoa đã hình thành một đội ngũ kỹ thuật kết hợp điều trị, giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Đội ngũ kế thừa phương châm bệnh viện của nguyên Giám đốc Chen Yinglong: “Nguyện coi bệnh của người như bệnh của chính mình, cứu được mạng sống của người khác chính là sự sống của mình”, phát huy tư tưởng học thuật của Đại sư Y học cổ truyền Trung Hoa Zhu Liangchun, đồng thời kết hợp nghiên cứu dược vật cổ kim. Khoa sàng lọc những dược vật vừa phù hợp với quy luật dùng thuốc theo biện chứng của y học cổ truyền Trung Hoa, vừa có tính định hướng đặc hiệu đối với các bệnh liên quan theo nghiên cứu dược lý hiện đại. Ngoài ra, khoa đưa vào sử dụng các thiết bị điều trị hiện đại như máy điều trị bằng sóng xung kích, kết hợp với lý luận kinh lạc và huyệt vị của y học cổ truyền Trung Hoa để triển khai nhiều phương pháp điều trị đặc sắc của y học cổ truyền Trung Hoa, gồm điều trị đưa thuốc Trung dược qua da có định hướng, xông rửa và đắp thuốc. Trong điều trị các bệnh thấp khớp và bệnh thận bằng y học cổ truyền Trung Hoa phối hợp với y học phương Tây, đặc biệt ở các bệnh thấp khớp-miễn dịch như viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, bệnh gút, lupus ban đỏ hệ thống, hội chứng Sjögren và bệnh Still ở người trưởng thành, khoa đã đạt được hiệu quả điều trị tốt.
Chuyên gia khám chữa bệnh chính Chen Jinchun: người đứng đầu chuyên ngành, giáo sư Đại học Trung y Bắc Kinh và Đại học Y học cổ truyền Trung Hoa Phúc Kiến, tiến sĩ, người hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ và thạc sĩ. Ông là ủy viên hội đồng của Hội Trung y Trung Hoa, đồng thời là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Chuyên môn Thấp khớp, Phó Chủ nhiệm Phân hội Biên tập và Xuất bản, Phó Chủ nhiệm Phân hội Giao lưu Đối ngoại; ủy viên Hội Những người làm khoa học và công nghệ trẻ toàn quốc; Phó Chủ tịch Hội Y học cổ truyền Trung Hoa tỉnh Phúc Kiến; Phó Chủ nhiệm Phân hội Thấp khớp thuộc Hội Y học Trung Hoa kết hợp Đông-Tây y tỉnh Phúc Kiến; Chủ tịch Hội Y học cổ truyền Trung Hoa thành phố Hạ Môn; Phó Chủ tịch Hội Y học và Hội Bác sĩ thành phố Hạ Môn. Ông từng được trao các danh hiệu như “Giải thưởng Bác sĩ Trung Quốc lần thứ 7”, “100 thầy thuốc trẻ Trung y xuất sắc toàn quốc lần thứ 2”, “Giám đốc bệnh viện xuất sắc tỉnh Phúc Kiến”, đồng thời được tuyển chọn làm “Chuyên gia thẩm định dự án của Ủy ban Quỹ quốc gia” và “Nhân tài xuất sắc của thành phố Hạ Môn”. Ông chuyên điều trị các bệnh thấp khớp và bệnh gan mật bằng y học Trung Hoa kết hợp y học phương Tây, đưa ra “lý luận đàm ứ gây bệnh” đối với viêm khớp dạng thấp và chủ trương điều trị viêm khớp dạng thấp bằng phương pháp hóa đàm, hoạt huyết, thông lạc. Ông đã công bố hơn 50 bài báo trên nhiều tạp chí học thuật quốc tế, quốc gia, cấp tỉnh và cấp thành phố, trong đó có 3 bài trên các tạp chí SCI, đồng thời xuất bản 5 chuyên khảo học thuật. Ông chủ trì 1 đề tài do Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc tài trợ, chủ trì hoặc hướng dẫn nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp thành phố.
Qiu Mingshan: người kế thừa học thuật, phó chủ nhiệm khoa, người hướng dẫn học viên sau đại học của Đại học Y học cổ truyền Trung Hoa Phúc Kiến. Ông đã làm công tác lâm sàng được 19 năm. Ông là ủy viên Phân hội Thấp khớp thuộc Hội Trung y Trung Hoa, Phó Chủ nhiệm Phân hội Thấp khớp thuộc Hội Y học cổ truyền Trung Hoa tỉnh Phúc Kiến, Phó Chủ nhiệm Phân hội Đau thuộc Hội Y học Trung Hoa kết hợp Đông-Tây y tỉnh Phúc Kiến, ủy viên Phân hội Thận học thuộc Hội Y học cổ truyền Trung Hoa tỉnh Phúc Kiến, đồng thời là ủy viên ban biên tập tạp chí học thuật cấp quốc gia Bệnh thấp khớp và Viêm khớp. Ông chuyên tâm nghiên cứu và điều trị lâm sàng bằng y học cổ truyền Trung Hoa đối với các bệnh thấp khớp-miễn dịch và bệnh thận, kế thừa tư tưởng học thuật của Giáo sư Chen Jinchun, dày công nghiên cứu các cổ phương, kết hợp cổ phương với tư tưởng học thuật của Giáo sư Chen Jinchun để làm sâu sắc và thúc đẩy lý luận đàm ứ gây bệnh. Ông đã công bố hơn 30 bài báo, từng chủ trì hoặc tham gia nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp thành phố.
Giới thiệu các bệnh đặc trưng của chuyên khoa
Uông tý/ngoan tý (viêm khớp dạng thấp): Đây là bệnh do các yếu tố gây bệnh phong, hàn, thấp lưu trú ở khớp, làm bế tắc khí huyết, đặc trưng bởi đau, sưng và cứng khớp buổi sáng ở các khớp nhỏ, tương đương với viêm khớp dạng thấp trong y học phương Tây. Những năm gần đây, dựa trên nhận thức của các y gia qua các thời kỳ về đàm ứ gây tý, khoa chúng tôi cho rằng biến đổi bệnh lý do đàm ứ xuyên suốt toàn bộ quá trình phát bệnh của ngoan tý và là cơ chế bệnh lý quan trọng của sự phát bệnh. Trên cơ sở biện chứng luận trị, chúng tôi áp dụng việc điều hòa, làm thông suốt khí cơ, hóa đàm, hoạt huyết và thông lạc xuyên suốt quá trình điều trị ngoan tý. Trong lâm sàng, trên cơ sở phương thuốc và dược vật điều trị từng thể chứng, tùy tình hình sẽ gia thêm bài thuốc giản lược hóa đàm hoạt huyết do khoa tự xây dựng. Đồng thời phối hợp với đắp thuốc Trung dược tại huyệt, điều trị bằng sóng xung kích, tiêm huyệt; thông qua điều trị cả bên trong lẫn bên ngoài, có thể cải thiện hiệu quả tình trạng sưng khớp và giảm tỷ lệ tàn tật.
Bệnh gút: Do thấp trọc và huyết ứ làm bế tắc, lưu trệ ở khớp và kinh lạc, khiến khí huyết không lưu thông, gây ra. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là khớp ngón chân, ngón tay và các khớp khác đỏ, sưng, đau, có thể kèm theo sốt. Chúng tôi cho rằng “tỳ hư” là gốc, “thấp trọc kết dính” là ngọn; trên cơ sở biện chứng luận trị, chú trọng vận dụng phép kiện tỳ vị, hóa thấp trọc. Giai đoạn cấp chủ yếu dùng thuốc Trung dược uống có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, thông lạc, chỉ thống, phối hợp đắp Bạch chỉ bên ngoài, hiệu quả giảm đau và tiêu sưng rõ rệt. Giai đoạn thuyên giảm chủ yếu kiện tỳ, lợi thấp, hóa trọc; lựa chọn các dược vật như thổ phục linh, bỉ giải, hạt mã đề, vừa có tác dụng lợi thấp trọc, thông tý thống, vừa thúc đẩy bài tiết acid uric, nhằm tăng cường hiệu quả điều trị.
Tý cột sống/Đại lâu (viêm cột sống dính khớp) là một bệnh mạn tính tiến triển, chủ yếu xâm phạm khớp cùng-chậu, các mỏm xương cột sống, mô mềm cạnh cột sống và các khớp ngoại vi, đồng thời có thể kèm theo biểu hiện ngoài khớp. Trường hợp nặng có thể xảy ra biến dạng cột sống và cứng khớp. Chúng tôi chia bệnh này thành hai thể là thận hư đốc hàn và thận hư thấp nhiệt, điều trị theo biện chứng, đồng thời phối hợp châm cứu, thuốc đắp ngoài, phương pháp điều trị ngoài bằng công thức xông rửa. Phần lớn triệu chứng có thể được cải thiện, làm chậm tiến triển bệnh, giảm tỷ lệ tàn tật và đạt được hiệu quả tốt.
Chế phẩm chuyên khoa
1) Bài thuốc hóa đàm hoạt huyết: Bài thuốc này do Giáo sư Chen Jinchun sáng lập trên cơ sở lý luận “đàm ứ gây bệnh”. Bài thuốc chủ trương điều trị viêm khớp dạng thấp bằng phương pháp hóa đàm, hoạt huyết, thông lạc; đây là đặc sắc của khoa và được xếp vào nhóm phương thuốc thường quy trong chẩn đoán và điều trị của khoa. Bài thuốc được ứng dụng rộng rãi trên lâm sàng và cho đáp ứng tốt.
2) Đắp Bạch chỉ tại huyệt: Bạch chỉ, hay Angelica dahurica, có tác dụng điều hòa và làm thông huyết mạch, khu phong tán hàn, trừ thấp thông lạc. Được sử dụng rộng rãi trong điều trị đau do bầm dập mô mềm, tăng sinh xương, căng cơ, viêm cơ do thấp khớp, gãy xương, viêm sụn sườn, viêm quanh khớp vai, đau dây thần kinh liên sườn và các bệnh khác.
3) Đắp Đại hoàng tại huyệt: Đại hoàng có tính hàn, vị đắng; ngoài tác dụng khi uống là tả độc nhiệt, phá tích trệ, hành huyết ứ, còn có tác dụng kháng khuẩn rất mạnh. Thử nghiệm chứng minh Đại hoàng có tác dụng kháng khuẩn đối với phần lớn vi khuẩn; có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn, trực khuẩn bạch hầu, Bacillus subtilis, trực khuẩn than, trực khuẩn thương hàn, phó thương hàn, lỵ và nấm gây bệnh. Vì vậy thường được dùng ngoài để điều trị bệnh. Không những vậy, Đại hoàng dùng ngoài tại khớp còn có thể thanh nhiệt, tiêu sưng, chỉ đau, do đó có hiệu quả rất tốt đối với bệnh nhân viêm khớp cấp.
4) Đắp Đinh hương và Nhục quế tại huyệt: Đinh hương thuộc họ Sim, có tác dụng ôn trung, ôn thận, giáng nghịch. Nhục quế có thể bổ hỏa trợ dương, dẫn hỏa quy nguyên, tán hàn chỉ thống, hoạt huyết thông kinh. Phối hợp hai vị trên và đắp tại huyệt Thần khuyết có thể kiện tỳ ôn trung, tán hàn chỉ tả, giáng nghịch chỉ ẩu.
5) Hạ sốt bằng Ngô thù du: Ngô thù du có tính vị cay, đắng, nóng, quy vào kinh Can, Tỳ, Vị, có tác dụng sơ can hạ khí, giáng nghịch chỉ ẩu, ôn trung chỉ thống, tán hàn táo thấp. Đắp Ngô thù du bên ngoài tại huyệt Dũng tuyền có thể dẫn hỏa đi xuống, đạt được hiệu quả hạ sốt tốt.
Tài khoản WeChat chính thức của khoa.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn