Khoa Y học Hô hấp và Chăm sóc Tích cực I
<Tổng quan về chuyên ngành>
Khoa Hô hấp, Bệnh viện trực thuộc số 2 của Đại học Y khoa Đại Liên, được thành lập năm 1950, năm 1969 cùng Học viện Y khoa Đại Liên di chuyển về phía nam đến Tuân Nghĩa, và năm 1983 trở về Đại Liên. Hiện nay, khoa là chuyên ngành trọng điểm của tỉnh Liêu Ninh, chuyên khoa lâm sàng trọng điểm của tỉnh Liêu Ninh, Trung tâm Nghiên cứu Y học Chuyển giao Ung thư Phổi tỉnh Liêu Ninh và Trung tâm Nghiên cứu Y học Lâm sàng tỉnh Liêu Ninh, đồng thời là chuyên ngành trọng điểm của thành phố Đại Liên. Năm 1986, khoa được Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Quốc gia phê duyệt là cơ sở chuyên môn thực hiện thử nghiệm lâm sàng thuốc; năm 1989 được phê duyệt là đơn vị được cấp quyền đào tạo và cấp bằng tiến sĩ. Năm 1997, khoa trở thành chuyên ngành y học trọng điểm cấp một của thành phố Đại Liên; năm 1998 trở thành chuyên khoa y học trọng điểm của tỉnh Liêu Ninh và được Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Quốc gia phê duyệt là cơ sở nghiên cứu thuốc kháng khuẩn. Năm 2003, khoa được công nhận là tập thể tiên tiến của hệ thống y tế thành phố Đại Liên và tập thể tiên tiến của hệ thống y tế thành phố Đại Liên trong công tác phòng chống SARS; năm 2005 được Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Quốc gia công nhận là phòng nghiên cứu có đủ tư cách thực hiện thử nghiệm lâm sàng thuốc; năm 2006 được Đại học Y khoa Đại Liên công nhận là tập thể tiên tiến; năm 2007 trở thành chuyên ngành y học trọng điểm của Sở Giáo dục tỉnh Liêu Ninh. Năm 2018, khoa được đổi tên thành Khoa Hô hấp và Y học Chăm sóc tích cực; tháng 8 cùng năm, được Hội đồng Đánh giá PCCM Quốc gia công nhận là đơn vị đạt tiêu chuẩn PCCM.
Khoa có đội ngũ chuyên môn và kỹ thuật có trình độ cao. Hiện có 20 bác sĩ, trong đó có 8 bác sĩ thuộc ngạch chuyên môn cao cấp và 1 bác sĩ thuộc ngạch chuyên môn phó cao cấp. Có 17 người có trình độ thạc sĩ trở lên, trong đó có 3 tiến sĩ và 2 nghiên cứu sinh tiến sĩ đang theo học. Khoa có 22 điều dưỡng, gồm 6 điều dưỡng giám sát, 14 điều dưỡng chuyên môn và 2 điều dưỡng viên. Ngoài ra có 1 kỹ thuật viên y tế giám sát và 1 kỹ thuật viên y tế. Các chức vụ học thuật gồm thành viên Nhóm Ung thư Phổi thuộc Phân hội Hô hấp của Hội Y học Trung Quốc, thành viên Hội Dị ứng học; thành viên Phân hội Bác sĩ Hô hấp thuộc Hội Bác sĩ Trung Quốc; phó chủ nhiệm Hội Nội khoa, Phân hội Hô hấp và Hội Dị ứng học tỉnh Liêu Ninh, cùng chủ nhiệm kế nhiệm của Ủy ban Chuyên môn Hô hấp Đại Liên, và các chức vụ khác. Các thành viên của khoa tham gia ban biên tập của nhiều tạp chí, trong đó có Chinese Journal of Tuberculosis and Respiratory Diseases và Chinese Journal of Lung Cancer. Khoa đã thực hiện 1 đề tài thuộc Chương trình 863 của Bộ Khoa học và Công nghệ và nhiều đề tài của Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia. Khoa đã nhận 4 Giải thưởng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ của Bộ Giáo dục, Hội Y học Trung Quốc và tỉnh Liêu Ninh, cùng 3 Giải thưởng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ cấp thành phố Đại Liên; đã công bố hơn 100 bài báo, trong đó có 35 bài được SCI lập chỉ mục; và nhận 6 bằng sáng chế phát minh cấp quốc gia.
Khoa có khoa ICU, khoa bệnh truyền nhiễm đường hô hấp, khoa bệnh đường thở mạn tính, phòng khám chuyên khoa hô hấp, phòng khám đa chuyên khoa về các nốt nhỏ ở phổi (MDT), phòng khám dị ứng, phòng xét nghiệm dị ứng, phòng kiểm tra chức năng phổi, phòng điều trị khí dung, phòng nội soi hô hấp, phòng kiểm tra và điều trị rối loạn hô hấp khi ngủ. Trong những năm gần đây, khoa đã triển khai các kỹ thuật mới về chẩn đoán nội soi và điều trị can thiệp hô hấp. Năm 2015, khoa triển khai kỹ thuật chọc hút dưới hướng dẫn của nội soi phế quản siêu âm; năm 2017 triển khai kỹ thuật nội soi lồng ngực nội khoa. Những tiến bộ này đã nâng cao đáng kể trình độ chẩn đoán và điều trị các bệnh khó như ung thư phổi, bệnh sarcoid, lao phổi và u trung biểu mô màng phổi. Khoa áp dụng kỹ thuật rửa toàn bộ phổi để điều trị bệnh lý lắng đọng protein phế nang; sử dụng nội soi phế quản cứng kết hợp với nội soi phế quản mềm, áp lạnh, cắt bằng điện và các kỹ thuật khác để điều trị hẹp đường thở lành tính và các bệnh lý khác.
<Tổng quan về chuyên khoa>
Khoa bệnh truyền nhiễm đường hô hấp được thành lập vào tháng 6 năm 2013. Khoa có đội ngũ kỹ thuật trình độ cao, hiện gồm 4 giáo sư, trong đó có 1 người hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ và 3 người hướng dẫn học viên cao học, 1 bác sĩ thuộc ngạch chuyên môn phó cao cấp, 4 bác sĩ điều trị và 11 điều dưỡng. Trưởng khoa là Giáo sư Vương Trấn Sơn, Tiến sĩ Y khoa, người hướng dẫn học viên cao học, Ủy viên thường vụ Ủy ban khóa 7 của Phân hội Bệnh hô hấp thuộc Chi hội Liêu Ninh của Hội Y học Trung Quốc, Phó trưởng Nhóm Can thiệp thuộc Ủy ban khóa 9 của Phân hội Hô hấp thuộc Hội Y học tỉnh Liêu Ninh, ủy viên Hội đồng khóa 10 của Hội Y học thành phố Đại Liên, và chủ nhiệm kế nhiệm của Phân hội Chuyên khoa Hô hấp thuộc Hội Y học thành phố Đại Liên. Năm 2000 và năm 2015, ông lần lượt sang Nhật Bản và Đức học tập, tu nghiệp. Ông từng nhận Giải thưởng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ tỉnh Liêu Ninh, Giải thưởng Khoa học và Công nghệ Y học Trung Quốc và Giải thưởng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ thành phố Đại Liên.
<Phạm vi chẩn đoán và điều trị của chuyên khoa> Bệnh truyền nhiễm đường hô hấp, ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản, ho mạn tính, bệnh phổi mô kẽ, thuyên tắc phổi, hội chứng ngưng thở - giảm thông khí khi ngủ và các bệnh khác.
<Đặc điểm kỹ thuật của chuyên khoa>
1. Chẩn đoán và điều trị bệnh truyền nhiễm đường hô hấp: Từ năm 1993, khoa đã chủ trì hơn 50 nghiên cứu lâm sàng về thuốc kháng khuẩn và tham gia nhiều nghiên cứu lâm sàng trong nước về thuốc kháng khuẩn mới, tích lũy kinh nghiệm phong phú trong điều trị chống nhiễm trùng.
2. Chẩn đoán và điều trị ung thư phổi: Sử dụng nội soi phế quản điện tử, nội soi phế quản siêu âm và nội soi lồng ngực nội khoa để xác định tính chất và loại mô bệnh học của tổn thương, làm cơ sở cho điều trị cá thể hóa. Đối với các nốt nhỏ ở phổi, khoa tổ chức hội chẩn đa chuyên khoa nhằm cung cấp cho người bệnh chiến lược theo dõi và điều trị hợp lý. Nhóm nghiên cứu do Giáo sư Vương Kỳ đứng đầu áp dụng các công nghệ mới như vi lưu và chip, tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản và lâm sàng trong chẩn đoán và điều trị ung thư phổi, đồng thời thực hiện các dự án nghiên cứu trọng điểm, dự án lớn cấp quốc gia và các dự án của Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia. Trung tâm Y học Chuyển giao Ung thư Phổi có thế mạnh nhất định về sàng lọc sớm và điều trị cá thể hóa ung thư phổi.
3. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hướng dẫn cai thuốc lá: Tổ chức các buổi nói chuyện về cai thuốc lá, hướng dẫn cai thuốc, tư vấn sức khỏe và điều trị theo tiêu chuẩn cho người bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
4. Chẩn đoán và điều trị hen phế quản và ho mạn tính: Áp dụng các biện pháp điều trị theo từng nguyên nhân khác nhau, điều trị hen theo tiêu chuẩn nhằm đạt được kiểm soát hen lâu dài.
5. Chẩn đoán và điều trị bệnh phổi mô kẽ: Kết hợp CT độ phân giải cao, xét nghiệm kháng thể tự miễn và sinh thiết phổi để chẩn đoán phân biệt bệnh phổi mô kẽ và định hướng điều trị.
6. Chẩn đoán và điều trị thuyên tắc phổi theo tiêu chuẩn, hướng dẫn điều trị chống đông.
7. Chẩn đoán và điều trị hội chứng ngưng thở - giảm thông khí khi ngủ: Đối với người ngáy về đêm và buồn ngủ ban ngày, sử dụng đa ký giấc ngủ (PSG) và thiết bị sàng lọc giấc ngủ xách tay để kiểm tra, đồng thời hướng dẫn điều trị thông khí không xâm lấn.
8. Kỹ thuật chẩn đoán và điều trị bằng nội soi hô hấp: Sử dụng nội soi phế quản điện tử, nội soi phế quản siêu âm và nội soi lồng ngực nội khoa để chẩn đoán và điều trị bệnh lý hô hấp; sử dụng nội soi phế quản cứng kết hợp với nội soi phế quản mềm, nong bóng, áp lạnh, cắt bằng điện và các kỹ thuật khác để điều trị hẹp đường thở lành tính.
<Công tác đào tạo và nghiên cứu của chuyên khoa>
Tình hình nghiên cứu: Giáo sư Vương Kỳ lần lượt chủ trì 1 đề tài thuộc Chương trình 863 của Bộ Khoa học và Công nghệ, 1 đề tài trọng điểm của Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia, 1 đề tài bồi dưỡng chương trình lớn và 2 đề tài chung, cùng các đề tài khác; kinh phí nghiên cứu gần 10 triệu nhân dân tệ. Khoa đã nhận 4 Giải thưởng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ của Bộ Giáo dục, Hội Y học Trung Quốc và tỉnh Liêu Ninh, cùng 3 Giải thưởng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ cấp thành phố Đại Liên; đã công bố hơn 100 bài báo liên quan, trong đó hơn 35 bài được SCI lập chỉ mục, tổng hệ số ảnh hưởng gần 100 điểm; nhận 6 bằng sáng chế phát minh cấp quốc gia; và tham gia biên soạn 3 tài liệu, trong đó có Đồng thuận chuyên gia Trung Quốc về chẩn đoán và điều trị nốt phổi.
Tình hình giảng dạy: Khoa đảm nhiệm công tác giảng dạy cho bác sĩ đến đào tạo nâng cao, sinh viên đại học, học viên cao học và nghiên cứu sinh tiến sĩ, chú trọng phương pháp giảng dạy phù hợp với năng lực từng người và đào tạo năng lực lâm sàng.
<Mục tiêu và triết lý>
Tôn trọng đức hạnh, đề cao y học, xây dựng một khoa hạng nhất theo định hướng học tập.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn