Răng Hàm Mặt
Tổng quan khoa: Tổng số nhân viên của khoa là 79 người. Nhân viên y tế có 47 người, gồm 8 giáo sư (bác sĩ trưởng khoa), 10 phó giáo sư (bác sĩ phó trưởng khoa), 11 bác sĩ điều trị và 18 bác sĩ nội trú; trong đó có 7 người có học vị tiến sĩ và 27 người có học vị thạc sĩ. Nhân viên điều dưỡng có 29 người, gồm 1 điều dưỡng trưởng, 5 điều dưỡng phó trưởng, 3 điều dưỡng phụ trách, 15 điều dưỡng viên và 5 hộ lý. Khu điều trị hiện có 36 giường; có phòng hồi sức của đơn vị, được trang bị máy theo dõi điện tâm đồ hiện đại, thiết bị điều trị bằng áp lực khí và nhân viên điều dưỡng chuyên nghiệp. Trong 3 năm gần đây, tỷ lệ sử dụng giường bệnh là 112,0%; số ca phẫu thuật hằng năm khoảng 1200 ca, trong đó phẫu thuật mức độ trung bình trở lên chiếm 58%. Phạm vi chuyên môn (bao gồm các kỹ thuật y tế đặc trưng và thành quả nghiên cứu học thuật của khoa): 1. Ngoại khoa đầu-cổ và hàm mặt. Được thành lập năm 1958, khoa chủ yếu nghiên cứu nha khoa và phẫu thuật ổ răng, phẫu thuật chỉnh hình hàm, phẫu thuật khớp thái dương hàm và chấn thương hàm mặt, phẫu thuật tái tạo hàm mặt, vi phẫu, phẫu thuật u đầu-cổ và các lĩnh vực khác. Đặc điểm chính gồm: 1. sử dụng kỹ thuật vi phẫu để sửa chữa các khuyết hổng mô mềm và mô cứng vùng miệng-hàm mặt do dị tật bẩm sinh, chấn thương, khối u, viêm và các nguyên nhân khác gây ra; phục hồi hình thái giải phẫu và chức năng sinh lý của các cơ quan hàm mặt; nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh; 2. nghiên cứu nguyên nhân và điều trị dị dạng sọ mặt; 3. nghiên cứu tổn thương hàm mặt; 4. điều trị toàn diện theo trình tự đối với khe hở môi-vòm miệng và các dịch vụ khác. Đây là một chuyên ngành có ảnh hưởng rộng và danh tiếng trong và ngoài Khu tự trị. 2. Khoa Chỉnh nha. Được thành lập năm 1991, đây là chuyên ngành chỉnh nha chuyên nghiệp được thành lập sớm nhất trong Khu tự trị. Đặc điểm chính gồm: 1. triển khai kỹ thuật chỉnh nha dây cung thẳng (bao gồm kỹ thuật MBT, kỹ thuật Tip-edge, kỹ thuật O-PAK, kỹ thuật chỉnh nha tự buộc DEMON và Smartclip, v.v.) và kỹ thuật chỉnh nha dây cung vuông tiêu chuẩn. 2. Vận dụng các quan niệm điều trị chỉnh nha mới như khí cụ chức năng tháo lắp, kỹ thuật 2×4 để điều trị sớm cho người bệnh có dị dạng mặt xương và thói quen xấu trong miệng; thúc đẩy điều trị chỉnh nha dự phòng và chỉnh nha can thiệp sớm bằng cách khám định kỳ từ giai đoạn răng sữa; hướng dẫn khoa học sự tăng trưởng và phát triển của răng, khớp cắn và cấu trúc sọ mặt ở trẻ em, thanh thiếu niên; điều trị kịp thời các dị dạng răng-hàm do yếu tố bất lợi gây ra. 3. Tích cực phối hợp với ngoại khoa miệng để thực hiện điều trị toàn diện theo trình tự cho trẻ bị khe hở môi-vòm miệng. 4. Sử dụng vi cấy ghép chỉnh nha để điều trị các trường hợp sai khớp cắn xương khó ở người trưởng thành. 5. Triển khai điều trị các bệnh như hội chứng ngưng thở khi ngủ. Trong 5 năm qua, Khoa Chỉnh nha đã hoàn thành điều trị cho hơn 7000 lượt người bệnh bị các loại sai khớp cắn, là đơn vị đầu tiên trong Khu tự trị triển khai ứng dụng lâm sàng neo chặn bằng vít vi cấy ghép, điều trị các ca khó như sai khớp cắn xương loại III, khớp cắn hở xương và đạt kết quả tốt. 3. Khoa Phục hình răng. Bắt đầu từ năm 1958, đặc điểm chính là sử dụng vật liệu nhân tạo để chế tạo các loại phục hình phù hợp với yêu cầu sinh lý, phục hồi khuyết hổng răng, mất cung răng, khuyết hổng hàm mặt và các tình trạng khác. Khoa cũng triển khai phục hình cho bệnh nha chu, điều chỉnh rối loạn khớp thái dương hàm nhằm tái lập chức năng sinh lý của người bệnh, thúc đẩy sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống. Các kỹ thuật phục hình sứ kim loại quý, phục hình sứ lắng đọng vàng, phục hình mão toàn sứ, hàm giả gắn attachment chính xác, hàm giả mão ống lồng, tái tạo khớp cắn và các kỹ thuật phục hình khác đã đạt trình độ tiên tiến trong nước. 4. Trung tâm Cấy ghép răng. Được thành lập năm 2010, khoa được trang bị hệ thống cấy ghép ITI của Thụy Sĩ và máy cấy ghép Bian, sở hữu thiết bị phẫu thuật chuyên dụng hàng đầu, thiết bị khử khuẩn chuyên dụng và phòng kỹ thuật phục hình chuyên nghiệp. Bên cạnh việc triển khai các hạng mục cấy ghép thông thường, khoa là đơn vị đầu tiên tại khu vực Nội Mông triển khai các kỹ thuật tiên tiến như nhiều kỹ thuật ghép xương và cấy ghép khi lượng xương không đủ, kỹ thuật cấy ghép nâng sàn xoang hàm trên, kỹ thuật phục hình thẩm mỹ trên implant, kỹ thuật cấy ghép tức thì và phục hình tức thì, kỹ thuật tái tạo và phục hồi chức năng sau khuyết hổng xương hàm cùng các kỹ thuật khác. Từ khi thành lập đến nay, tỷ lệ tồn tại của implant tại khoa đạt 100%, đạt tiêu chuẩn quốc tế về tỷ lệ tồn tại của implant nha khoa. 5. Khoa Mô cứng răng và Nội nha. Được thành lập năm 1958, đây là một trong những khoa nòng cốt của bệnh viện chúng tôi. Khoa triển khai chẩn đoán và điều trị hệ thống bệnh sâu răng, bệnh tủy răng và bệnh vùng quanh chóp; chẩn đoán và điều trị khuyết tật mô cứng của răng; chẩn đoán và điều trị răng đổi màu, phục hình thẩm mỹ răng, tẩy trắng răng; chẩn đoán và điều trị theo trình tự các bệnh khó trong lĩnh vực mô cứng răng và nội nha, như sâu răng lan rộng, sâu răng do bức xạ, tổn thương do axit và bệnh lý khớp cắn. Những năm gần đây, khoa đã triển khai các dịch vụ y tế chuyên môn đặc trưng như trám gutta-percha nóng, điều trị ống tủy bằng kính hiển vi, phẫu thuật chóp răng bằng kính hiển vi, phục hình thẩm mỹ răng và phục hình dính trực tiếp mô cứng răng. Toàn thể nhân viên y tế và điều dưỡng của Khoa Mô cứng răng và Nội nha phục vụ đông đảo người bệnh bằng thái độ làm việc theo đuổi sự hoàn thiện, kỹ thuật chẩn đoán và điều trị chuyên môn tiên tiến và chất lượng y tế hàng đầu; khoa được đồng nghiệp trong nước công nhận và đông đảo người bệnh đánh giá cao. 6. Khoa Bệnh nha chu và Niêm mạc miệng. Chính thức thành lập năm 2011, khoa tiếp tục phân chia chuyên sâu các lĩnh vực của nội nha khoa, làm cho việc điều trị bệnh lý miệng trở nên chuyên môn hóa hơn. Khoa Nha chu thực hiện chẩn đoán, chẩn đoán phân biệt và điều trị hệ thống các loại bệnh nha chu; triển khai các loại phẫu thuật nha chu; điều trị và duy trì nha chu cho phục hình trên implant; đồng thời hướng dẫn vệ sinh và chăm sóc sức khỏe miệng, hướng tới hiệu quả lâu dài đối với sức khỏe nha chu. Khoa Niêm mạc miệng nổi bật với đặc trưng điều trị bệnh niêm mạc miệng bằng kết hợp y học Trung Quốc và y học phương Tây, kết hợp y học Mông Cổ và thuốc Mông Cổ. Khoa điều trị các bệnh niêm mạc miệng như loét áp-tơ tái phát, liken phẳng, hội chứng Sjögren và đạt hiệu quả lâm sàng khá tốt. Đồng thời, khoa đã tích lũy kinh nghiệm phong phú trong nghiên cứu cơ bản và chẩn đoán, điều trị lâm sàng các bệnh như tổn thương tiền ung thư niêm mạc miệng, bệnh nấm Candida miệng, hội chứng Sjögren, bệnh bóng nước niêm mạc miệng và lupus ban đỏ. Tiêu chuẩn chẩn đoán, điều trị và các phương pháp kỹ thuật được sử dụng đồng bộ với trình độ tiên tiến trong nước. 7. Trung tâm Chẩn đoán và Điều trị Bệnh răng miệng trẻ em. Thành lập năm 2010, trung tâm kiên trì phương châm «lấy trẻ bệnh làm trung tâm, lấy chất lượng làm cốt lõi, nâng cao chất lượng cuộc sống của trẻ em». Các hoạt động chính gồm: chẩn đoán và điều trị sâu răng, bệnh tủy và bệnh quanh chóp ở trẻ em cùng kỹ thuật phục hồi răng; chẩn đoán và xử trí chấn thương răng trẻ em; chẩn đoán và điều trị bệnh nha chu, niêm mạc ở trẻ em; kỹ thuật điều trị không đau, xâm lấn tối thiểu; can thiệp sớm các bất thường khớp cắn ở trẻ em và sự phát triển nhai, tăng trưởng; chẩn đoán và điều trị bệnh răng miệng ở trẻ khuyết tật; chẩn đoán, điều trị và nghiên cứu liên quan đến biểu hiện trong miệng của bệnh di truyền và bệnh toàn thân ở trẻ em; và quản lý sức khỏe răng miệng trẻ em. 8. Khoa Cấp cứu răng miệng. Khoa luôn kiên trì nguyên tắc «thời gian chính là sinh mạng», phát huy đặc điểm tập trung nhiều chuyên ngành, thực hiện hội chẩn và chuyển tuyến người bệnh trong khoa, giúp việc khám chữa bệnh thuận tiện và hiệu quả hơn, đồng thời cung cấp cho người bệnh phương án điều trị toàn diện và dịch vụ chẩn đoán, điều trị chất lượng cao. Hoạt động chính là điều trị đau răng cấp tính, chấn thương răng, chấn thương miệng-hàm mặt, bao gồm xử trí cấp cứu chảy máu sau nhổ răng, chảy máu lợi, trật khớp thái dương hàm, viêm quanh thân răng cấp tính của răng khôn và các cấp cứu khác. Đối với người bệnh chấn thương hàm mặt kèm theo đa chấn thương, khoa phối hợp với bác sĩ ngoại khoa để nhanh chóng thực hiện xử trí cấp cứu tương ứng, cố gắng hết sức cứu sống người bệnh. 9. Khoa Dự phòng và Chăm sóc sức khỏe răng miệng. Cơ cấu khoa gồm hai phần: phòng khám ngoại trú của bệnh viện và cơ sở cộng đồng. Hoạt động ngoại trú gồm các biện pháp dự phòng lâm sàng, giáo dục sức khỏe răng miệng, dịch tễ học răng miệng và công tác tại cơ sở cộng đồng. Dịch tễ học răng miệng bao gồm giám sát và phân tích tình hình lưu hành các bệnh răng miệng thường gặp trong cộng đồng như sâu răng, bệnh nha chu, và quản lý sâu răng ở nhóm nguy cơ cao. Công tác tại cơ sở cộng đồng chủ yếu gồm dự phòng và chăm sóc sức khỏe răng miệng cho trẻ lứa tuổi mầm non, như giáo dục và thúc đẩy sức khỏe răng miệng định kỳ, khám răng miệng định kỳ, trám bít hố rãnh, bôi fluor tại chỗ chuyên nghiệp, chẩn đoán sớm và điều trị sớm các bệnh răng miệng thường gặp ở trẻ nhỏ và trẻ trước tuổi đi học, cũng như xây dựng hồ sơ sức khỏe răng miệng cộng đồng và thực hiện giáo dục, thúc đẩy sức khỏe răng miệng. 10. Trung tâm Huấn luyện Giọng nói. Khoa chủ yếu giải quyết nguyên nhân bệnh lý của rối loạn giọng nói chức năng sau phẫu thuật khe hở vòm miệng và vấn đề chỉnh sửa, luyện tập. Thông qua luyện nghe, người bệnh có thể phân biệt phát âm mũi hóa và phát âm không mũi hóa, đồng thời trải qua luyện tập rối loạn cộng hưởng, luyện phát âm, luyện phát âm tổng hợp và các quá trình khác, từng bước giúp người bệnh phục hồi hoặc tiến gần đến chức năng ngôn ngữ bình thường. Từ năm 2012 đến nay, khoa đã đăng ký tổng cộng hơn 30 đề tài nghiên cứu khoa học, gồm 2 đề tài của Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia, 15 đề tài của Quỹ Khoa học Tự nhiên Nội Mông, 2 đề tài nghiên cứu khoa học của Sở Y tế Nội Mông, 1 đề tài nghiên cứu khoa học của Sở Giáo dục, 5 đề tài trọng điểm (chung) của Đại học Y khoa Nội Mông và bệnh viện trực thuộc, 2 đề tài Nhân tài Thảo nguyên; tổng kinh phí nghiên cứu hơn 3 triệu nhân dân tệ. Trong 5 năm gần đây, khoa đã công bố hơn 400 bài báo học thuật trên các tạp chí nòng cốt, gồm 14 bài SCI, 10 bài trên các tạp chí Zhonghua, số còn lại đăng trên các tạp chí nòng cốt. Khoa tham gia biên soạn 2 tác phẩm, nhận 3 Giải thưởng Tiến bộ Thành quả Nghiên cứu Khoa học của Khu tự trị và đạt 1 bằng sáng chế quốc gia. Điện thoại phòng khám ngoại trú: 3451240, ngoại trú tầng 6 Điện thoại trạm điều dưỡng khu điều trị: 3451457, Khu 18B, Tòa nhà Nội trú số 1.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn