Khoa Ngoại(南岗总院)
Khoa Ngoại
2022.11
I. Tổng quan khoa
Khoa Ngoại, Bệnh viện trực thuộc số 2 Đại học Y học Cổ truyền Trung y Hắc Long Giang, được thành lập vào năm 1992, là khoa lâm sàng lấy phẫu thuật làm chủ đạo, lấy điều trị kết hợp Trung y và Tây y làm đặc trưng. Sau hơn 30 năm thành lập, với sự nỗ lực của nhiều thế hệ chuyên gia, học giả cùng sự quan tâm, ủng hộ của các thế hệ lãnh đạo bệnh viện, khoa hiện đã trở thành một khoa có lực lượng kỹ thuật hùng hậu, có tầm ảnh hưởng nhất định trong tỉnh, đảm nhiệm công tác lâm sàng, giảng dạy và nghiên cứu khoa học về ngoại khoa cho Học viện Lâm sàng số 2, Học viện Châm cứu Tuina và Học viện Phục hồi chức năng thuộc Đại học Y học Cổ truyền Trung y Hắc Long Giang.
Khoa có 30 giường bệnh được đưa vào sử dụng, hiện có 16 nhân viên y tế, trong đó có 1 người có chức danh chuyên môn cấp cao nhất, 3 bác sĩ điều trị, 2 bác sĩ nội trú, 2 người có trình độ tiến sĩ, 4 người có trình độ thạc sĩ, 1 người hướng dẫn nghiên cứu sinh thạc sĩ, 7 điều dưỡng phụ trách và 3 điều dưỡng. Trong 5 năm gần đây, toàn khoa đã công bố hơn 40 bài báo trên các tạp chí nòng cốt cấp quốc gia, 3 bài báo SCI. Đã xuất bản 9 chuyên khảo, chủ trì và đảm nhiệm 8 đề tài cấp sở, ban, cục của tỉnh, 1 dự án Quỹ Nghiên cứu Khoa học Tự nhiên tỉnh Hắc Long Giang và 1 dự án nghiên cứu khoa học của Cục Quản lý Y học Cổ truyền Trung y Quốc gia.
II. Phạm vi chẩn đoán và điều trị
Khoa có thế mạnh trong chẩn đoán và điều trị bằng phương pháp kết hợp Trung y và Tây y đối với các bệnh ngoại khoa thường gặp và đa phát như nốt tuyến giáp, viêm tuyến giáp, u tuyến giáp, ung thư tuyến giáp, bệnh viêm tuyến vú, áp xe tuyến vú, tăng sản tuyến vú, u xơ tuyến vú, u nhú trong ống tuyến vú, tiết dịch núm vú, ung thư vú, viêm túi mật, sỏi túi mật, polyp túi mật, ung thư túi mật, ung thư dạ dày, ung thư đại trực tràng, ung thư tuyến tụy, lách to và cường lách, viêm ruột thừa, tắc ruột, xuất huyết đường tiêu hóa, các loại thoát vị, tràn dịch màng tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt, phì đại tăng sản tuyến tiền liệt kèm bí tiểu, ung thư bàng quang, giãn tĩnh mạch chi dưới, các loại loét mạn tính trên bề mặt cơ thể, đạt được hiệu quả lâm sàng tương đối tốt.
III. Đặc trưng y tế
Khoa Ngoại của bệnh viện chúng tôi có ưu thế độc đáo trong chẩn đoán và điều trị kết hợp Trung y và Tây y đối với các bệnh tuyến giáp, bệnh tuyến vú, bệnh hệ thống đường mật, loét do tì đè, tắc ruột và các bệnh khác, hình thành đặc trưng điều trị cá thể hóa kết hợp Trung y và Tây y:
1. Bệnh tuyến giáp: Với tư cách là đơn vị chủ nhiệm của Ủy ban Chuyên môn Bệnh tuyến giáp thuộc Hội Kết hợp Trung y và Tây y tỉnh Hắc Long Giang, khoa đã đưa vào sử dụng thiết bị đốt vi sóng tiên tiến quốc tế, triển khai kỹ thuật chẩn đoán và điều trị siêu xâm lấn tối thiểu tuyến giáp để điều trị các bệnh như nốt lành tính tuyến giáp, nang tuyến giáp, u tuyến giáp. Kỹ thuật này có các ưu điểm như xâm lấn tối thiểu, không để lại sẹo, không ảnh hưởng đến chức năng tuyến giáp, không chảy máu trong phẫu thuật, không đau, sau phẫu thuật uống thuốc Trung y giúp giảm tỷ lệ tái phát và hồi phục nhanh. Cùng với sự phát triển và tiến bộ không ngừng của y học hiện đại, phẫu thuật xâm lấn tối thiểu tuyến giáp bằng kim vừa giải quyết khả năng chuyển ác tính của nốt tuyến giáp, vừa bảo tồn chức năng tuyến giáp và không để lại sẹo ở cổ, cung cấp phương pháp điều trị hiện đại, an toàn và thân thiện cho bệnh nốt lành tính tuyến giáp.
2. Bệnh tuyến vú: Đối với các bệnh lành tính tuyến vú như tăng sản tuyến vú, chứng đau vú, tiết dịch núm vú, viêm tuyến vú giai đoạn chưa hình thành mủ, viêm tuyến vú tương bào và các bệnh tuyến vú khác, chúng tôi áp dụng biện chứng luận trị của Trung y, điều trị cá thể hóa, kết hợp uống thuốc và đắp thuốc bên ngoài, phối hợp với các chế phẩm nội viện mang đặc trưng Trung y, hiệu quả lâm sàng rõ rệt. Đối với ung thư vú ngày càng gia tăng, ngoài việc tích cực áp dụng các phương pháp điều trị tổng hợp như phẫu thuật cắt tuyến vú triệt căn cải biên, phẫu thuật cắt bỏ xâm lấn tối thiểu bảo tồn vú, xạ trị và hóa trị, điều trị hormone, chúng tôi phát huy đầy đủ ưu thế của phương pháp kết hợp Trung y và Tây y trong điều trị ung thư vú, đạt được hiệu quả lâm sàng tương đối tốt.
3. Điều trị bằng phẫu thuật xâm lấn tối thiểu: Trên cơ sở nghiêm ngặt nắm bắt chỉ định của phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, đối với các bệnh ngoại khoa, khoa áp dụng phẫu thuật xâm lấn tối thiểu: ① Cắt túi mật qua nội soi ổ bụng, cắt bỏ triệt căn ung thư dạ dày, cắt bỏ triệt căn ung thư đại trực tràng, cắt khối tá tụy và các phẫu thuật khác; cắt bỏ phần lớn tuyến giáp bằng nội soi, cắt toàn bộ tuyến giáp kèm nạo vét hạch bạch huyết vùng cổ. ② Cắt đốt điện plasma tuyến tiền liệt qua niệu đạo dưới nội soi bàng quang, bóc nhân tuyến tiền liệt, cắt bỏ u bàng quang và các phẫu thuật khác; ③ Điều trị xâm lấn tối thiểu các nốt lành tính tuyến giáp và tuyến vú bằng phẫu thuật đốt sóng cao tần.
4. Sỏi túi mật kèm viêm túi mật, polyp túi mật kèm viêm túi mật: Trên tiền đề bảo đảm an toàn phẫu thuật và tổn thương thứ phát nhỏ, chúng tôi áp dụng phẫu thuật xâm lấn tối thiểu nội soi ổ bụng, có các ưu điểm như đường rạch nhỏ, hồi phục nhanh; sau phẫu thuật uống thuốc Trung y giúp lợi mật, bảo vệ gan, giảm khả năng hình thành sỏi ống mật, đạt được hiệu quả lâm sàng rất tốt.
5. Tắc ruột: Đối với những bệnh nhân tắc ruột phù hợp với điều trị bảo tồn không phẫu thuật, khoa chúng tôi áp dụng các biện pháp tổng hợp kết hợp Trung y và Tây y như nhịn ăn, nhịn uống, giảm áp dạ dày-ruột, chống viêm và bù dịch, châm cứu, tiêm huyệt, cho ăn qua mũi hoặc thụt tháo bằng thuốc Trung y, vật lý trị liệu vi sóng, đắp thuốc Trung y lên rốn, đạt được hiệu quả lâm sàng tương đối tốt. Phẫu thuật là một biện pháp quan trọng để điều trị tắc ruột. Đối với bệnh nhân cần phẫu thuật, có thể căn cứ vào tình trạng toàn thân của bệnh nhân cùng nguyên nhân, tính chất, vị trí tắc ruột và các yếu tố khác để lựa chọn phương thức phẫu thuật phù hợp như gỡ dính, tháo lồng ruột hoặc tháo xoắn ruột, cắt ruột nối ruột, nối tắt ruột, mở thông ruột hoặc đưa ruột ra ngoài, được bệnh nhân và gia đình đánh giá cao.
6. Loét do tì đè: Đối với các giai đoạn khác nhau của loét do tì đè, khoa áp dụng các biện pháp tổng hợp như cắt lọc, định kỳ trở mình, căn cứ vào phân kỳ và biện chứng để sử dụng ngoài các thuốc trị loét do tì đè số Ⅰ, Ⅱ, Ⅲ, kết hợp với vật lý trị liệu vi sóng, máy trị liệu photon và các phương pháp khác. Phát huy ưu thế của Trung y trong điều trị bệnh nguyên phát, sử dụng các phương pháp điều trị tổng hợp như châm cứu, tuina, Trung y và thuốc Trung y để điều trị các bệnh nguyên phát như đột quỵ, liệt nửa người, nhồi máu não, liệt hai chi dưới do chấn thương, rút ngắn đáng kể thời gian lành loét do tì đè mà không làm chậm trễ việc điều trị bệnh nguyên phát.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn