Khoa Sơ sinh (bao gồm NICU)
Khoa Sơ sinh (bao gồm NICU) I. Giới thiệu khoa Khoa Nội sơ sinh (bao gồm NICU) hiện có tổng cộng 240 giường, gồm 110 giường NICU và 130 giường nội sơ sinh (trong đó cơ sở Chu Giang Tân Thành có 100 giường, cơ sở Bệnh viện Nhi có 80 giường, cơ sở Bệnh viện Phụ sản và Nhi có 60 giường); diện tích trên 4.000 mét vuông. Khoa có các thiết bị chuyên dụng về chẩn đoán, điều trị và xét nghiệm trị giá gần 70 triệu nhân dân tệ. Khoa có phòng xét nghiệm chuyên ngành. Các cơ sở kỹ thuật hiện đại phục vụ cấp cứu, theo dõi, hỗ trợ sự sống và nghiên cứu liên quan về cơ bản đã đầy đủ, bao gồm: các loại máy thở tần số thông thường, máy thở tần số cao, hệ thống điều trị hô hấp CPAP, hệ thống điều trị hít NO, hệ thống điều trị hạ thân nhiệt mức độ nhẹ, máy theo dõi sinh lý đa chức năng, máy theo dõi độ bão hòa oxy mạch đập, máy theo dõi chức năng não, máy theo dõi huyết áp không xâm lấn, máy phân tích khí máu và hóa sinh, bàn cấp cứu bằng tia hồng ngoại xa, bơm truyền dịch, máy điều trị bằng ánh sáng xanh, lồng ấp trẻ sơ sinh, hệ thống vận chuyển cấp cứu và các thiết bị khác. Trong 3 năm gần đây, trung bình mỗi năm khoa đã điều xe vận chuyển hơn 100 lượt trẻ sơ sinh nguy kịch, và chuyên khoa tiếp nhận trung bình hơn 7.800 lượt bệnh nhân mỗi năm. Trẻ sơ sinh có cân nặng khi sinh#!nhỏ nhất#! được cứu chữa thành công có cân nặng khi sinh là 600 gam, tuổi thai#!nhỏ nhất#! là 25 tuần. Hiện nay, quy mô, cơ sở vật chất và thiết bị, cũng như trình độ kỹ thuật của chuyên khoa được các đồng nghiệp trong nước công nhận là thuộc trình độ hàng đầu trong nước. Các hướng nghiên cứu ổn định, có khả năng phát triển bền vững đã hình thành bao gồm: quản lý lâm sàng trẻ sơ sinh có cân nặng khi sinh rất thấp và cực thấp; nghiên cứu chuyên sâu theo chuỗi về tổn thương não ở trẻ sơ sinh và trẻ sinh non; nghiên cứu chuyên sâu theo chuỗi về tổn thương phổi ở trẻ sơ sinh; nghiên cứu về dinh dưỡng sơ sinh và các bệnh đường ruột, cùng các hướng khác.
II. Đặc điểm kỹ thuật (1)Điều trị và quản lý trẻ sinh non, trẻ sơ sinh có cân nặng khi sinh rất thấp;(2)kỹ thuật nội soi chẩn đoán và điều trị sơ sinh;(3)thay máu toàn bộ đồng thời qua động mạch và tĩnh mạch ngoại biên;(4)nuôi dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn ngoài đường tiêu hóa (sau đây gọi là PN);(5)vận chuyển trẻ sơ sinh nguy kịch;(6)hỗ trợ hô hấp không xâm lấn và xâm lấn (bao gồm CPAP, thông khí cơ học tần số thông thường, thông khí cơ học tần số cao, v.v.);(7)theo dõi không xâm lấn và xâm lấn nhiều chức năng sinh lý:(8)theo dõi liên tục chức năng não;(9)điều trị hạ thân nhiệt mức độ nhẹ;(10)quản lý trẻ sơ sinh trong giai đoạn chu phẫu;(11)thẩm phân phúc mạc ở trẻ sơ sinh;(12)sàng lọc bệnh chuyển hóa di truyền ở trẻ sơ sinh;(13)sàng lọc bệnh võng mạc ở trẻ sinh non;(14)sàng lọc thính lực ở trẻ sơ sinh.
III. Các danh hiệu quan trọng Trong 5 năm gần đây, Khoa Nội sơ sinh (bao gồm NICU) đã nhận được kinh phí cho 7 đề tài từ Quỹ Khoa học Tự nhiên tỉnh Quảng Đông và Chương trình Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Đông, cùng kinh phí cho 6 đề tài từ Sở Y tế tỉnh Quảng Đông và Chương trình Khoa học và Công nghệ thành phố Quảng Châu; đã công bố hơn 70 bài báo, trong đó có 7 bài trên các tạp chí được SCI lập chỉ mục và 22 bài trên các tạp chí thuộc hệ thống Trung Hoa của Hội Y học Trung Quốc; chủ biên 2 chuyên khảo, chủ dịch 1 chuyên khảo; đạt 1 giải ba Giải thưởng Thành tựu Tiến bộ Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Đông và 2 giải ba Giải thưởng Thành tựu Tiến bộ Khoa học và Công nghệ thành phố Quảng Châu.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn