Nhãn khoa
Khoa Mắt được thành lập năm 1902. Năm 1951, dưới sự chủ trì của Giáo sư Pan Zuoxin, chuyên gia nhãn khoa nổi tiếng toàn quốc và người đặt nền móng cho chuyên ngành, bộ môn giảng dạy và nghiên cứu được thành lập và bắt đầu đảm nhiệm giảng dạy lâm sàng cho trường y. Năm 1956, Giáo sư Pan dẫn dắt việc thành lập phòng thí nghiệm giải phẫu bệnh mắt, một trong số ít phòng thí nghiệm chuyên ngành nhãn khoa ở Trung Quốc khi đó, đặt nền tảng vững chắc cho đào tạo nhân lực nhãn khoa và nghiên cứu. Giáo sư Pan tiên phong kỹ thuật cắt bản sụn mi để điều trị biến chứng của bệnh mắt hột. Phương pháp này được biết đến rộng rãi trên toàn Trung Quốc với tên gọi “phẫu thuật Pan”. Từ đó, khoa trở thành trung tâm chăm sóc mắt, giảng dạy và nghiên cứu ở phía đông tỉnh Sơn Đông, đồng thời có uy tín toàn quốc nhờ quy mô, phạm vi chuyên khoa toàn diện, trình độ học thuật tổng thể và trang thiết bị hiện đại. Năm 1978, sau khi được Quốc vụ viện phê chuẩn, nhãn khoa trở thành một trong những đơn vị đầu tiên được phép cấp bằng thạc sĩ và bắt đầu tuyển sinh học viên cao học. Năm 1998, chuyên ngành được phê duyệt đào tạo tiến sĩ, trở thành chương trình tiến sĩ nhãn khoa đầu tiên của tỉnh Sơn Đông và chương trình tiến sĩ đầu tiên của Đại học Thanh Đảo. Tháng 12 năm 2006, Sở Giáo dục tỉnh Sơn Đông phê duyệt đây là chuyên ngành trọng điểm cần phát triển trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 11 của tỉnh. Tháng 8 năm 2007, Bộ Giáo dục phê duyệt đây là chuyên ngành nhãn khoa trọng điểm cấp quốc gia. Tháng 9 năm 2007, chuyên ngành được phép thành lập trạm nghiên cứu sau tiến sĩ về y học lâm sàng của Đại học Thanh Đảo. Tháng 9 năm 2011, chuyên ngành được phê duyệt là phòng thí nghiệm y học lâm sàng nhãn khoa trọng điểm cấp tỉnh Sơn Đông trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 về giáo dục đại học. Năm 2015, chuyên ngành được phê duyệt là chuyên khoa lâm sàng trọng điểm cấp tỉnh.
Nhờ nỗ lực bền bỉ của nhiều thế hệ, nhãn khoa đã phát triển nhanh về quy mô, dịch vụ y tế, cơ cấu chuyên khoa, trình độ học thuật, đào tạo chuyên môn và trang thiết bị y tế, đồng thời đạt được những thành tựu đáng kể trong chăm sóc người bệnh, giảng dạy và nghiên cứu. Khoa có đội ngũ nhân lực dồi dào và phát triển thành tập thể lâm sàng, giảng dạy và nghiên cứu toàn diện, trình độ cao, do các giảng viên hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ dẫn dắt, với sự hỗ trợ của nhiều cán bộ kỹ thuật trẻ và trung niên có năng lực. Hiện chuyên ngành có 41 bác sĩ toàn thời gian: 30 người có bằng tiến sĩ và 9 người có bằng thạc sĩ, tức 95,1% có trình độ thạc sĩ trở lên. Tám người có chức danh chuyên môn cấp cao và 12 người có chức danh phó cấp cao; nhóm có chức danh phó cấp cao trở lên chiếm 48,8% tổng số. Đội ngũ gồm 1 chuyên gia Học giả Thái Sơn được bổ nhiệm đặc biệt, 3 giảng viên hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ và 11 giảng viên hướng dẫn học viên thạc sĩ. Ba thành viên tham gia ban biên tập Tạp chí Nhãn khoa Trung Quốc và 7 người tham gia ban biên tập các tạp chí nòng cốt. Khoa có lộ trình phát triển nhân tài hợp lý và các nhà lãnh đạo học thuật năng động. Mỗi chuyên khoa trọng điểm đều được phép cấp bằng thạc sĩ và tiến sĩ, đồng thời là đơn vị thành viên của nhóm học thuật cấp quốc gia và đơn vị chủ trì của nhóm học thuật cấp tỉnh Sơn Đông.
Trong những năm gần đây, khoa đã thực hiện 7 đề tài của Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc và hơn 20 đề tài nghiên cứu do chính quyền, cơ quan công lập và doanh nghiệp ở cấp tỉnh và thành phố giao. Khoa nhận hơn 20 giải thưởng nghiên cứu cấp tỉnh và thành phố; các thành viên giữ vai trò chủ biên hoặc đồng chủ biên 10 cuốn sách. Trong những năm gần đây, nhân viên đã công bố hơn 300 bài báo trên các tạp chí học thuật Trung Quốc được công khai, trong đó hơn 40 bài được lập chỉ mục trong SCI, MED hoặc ISTP. Khoa đã đưa vào 22 kỹ thuật và dự án mới, với kinh phí nghiên cứu được phân bổ sử dụng hơn 3 triệu nhân dân tệ. Khoa xây dựng quan hệ hợp tác lâu dài, ổn định với các tổ chức liên quan ở Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản và Hàn Quốc, đồng thời mời các học giả nổi tiếng làm giáo sư thỉnh giảng. Tổng cộng 13 cán bộ đã học tập hoặc thăm các cơ sở ở nước ngoài và sau khi trở về đã đóng góp cho sự phát triển của khoa.
Khoa tiếp tục phát triển và đổi mới trong giảng dạy. Với sự hỗ trợ của Trung tâm Thực hành Giảng dạy Quốc gia về Khoa học Y học Cơ bản, khoa là một trong những đơn vị đầu tiên trong trường triển khai giảng dạy đa phương tiện và song ngữ, đạt kết quả đáng kể. Phát huy lợi thế là chuyên ngành trọng điểm cấp quốc gia được phép đào tạo tiến sĩ và có trạm nghiên cứu sau tiến sĩ, nhãn khoa tiếp tục phát triển và đã đào tạo tổng cộng 2.400 sinh viên đại học, hơn 200 học viên thạc sĩ và 38 nghiên cứu sinh tiến sĩ. Khoa tổ chức nhiều khóa đào tạo y khoa liên tục và hoạt động trao đổi học thuật ở các cấp độ khác nhau; các thành viên làm chủ biên 3 giáo trình do Nhà xuất bản Y học Nhân dân phát hành, tham gia biên soạn 3 giáo trình đại học chuyên ngành trong kế hoạch quốc gia và thực hiện 10 đề tài nghiên cứu giảng dạy. Khoa nhận 2 giải Luận án Tiến sĩ Xuất sắc tỉnh Sơn Đông và 2 giải Luận văn Thạc sĩ Xuất sắc tỉnh Sơn Đông; các thành quả giảng dạy liên quan nhận giải nhì trong giải thưởng thành tựu giảng dạy sau đại học cấp tỉnh. Trong những năm gần đây, bộ môn giảng dạy và nghiên cứu nhãn khoa nhiều lần được công nhận là Tập thể Giảng dạy Tiên tiến và Tập thể Tiên tiến về Đạo đức Nghề nghiệp Tiêu biểu. Một số thành viên được công nhận là Giảng viên hướng dẫn sau đại học xuất sắc tỉnh Sơn Đông, Giảng viên hướng dẫn sau đại học xuất sắc Đại học Thanh Đảo, Giảng viên xuất sắc Đại học Thanh Đảo và Gương điển hình về đạo đức nghề nghiệp của Đại học Thanh Đảo.
Bệnh viện đầu tư xây dựng trung tâm nhãn khoa đạt trình độ tiên tiến quốc tế và trang bị các thiết bị y tế, nghiên cứu hiện đại trị giá hơn 20 triệu nhân dân tệ. Phòng thí nghiệm hiện có diện tích hơn 200 mét vuông. Bằng cách áp dụng quản lý khoa học linh hoạt và thực hiện triết lý dịch vụ “lấy người bệnh làm trung tâm, lấy chất lượng y tế làm cốt lõi”, khoa đã cải thiện cả chất lượng lẫn hiệu quả. Lượt khám ngoại trú tăng lên hơn 160.000 lượt; khoa tiếp tục thực hiện các ca phẫu thuật chất lượng cao, trình độ cao bằng kỹ thuật tiên tiến quốc tế và tiến hành hơn 4.300 ca phẫu thuật nội trú mỗi năm.
Chuyên ngành áp dụng cơ chế trong đó trưởng chuyên môn chịu trách nhiệm quản lý tổng thể. Dưới sự chỉ đạo của nhóm lãnh đạo phát triển chuyên ngành của trường, trưởng chuyên môn giám sát mọi mặt của chuyên ngành và chịu trách nhiệm cuối cùng về sự phát triển. Khoa có một số hướng chuyên môn trọng điểm: bệnh giác mạc và đục thủy tinh thể; giải phẫu bệnh mắt; bệnh dịch kính-võng mạc và chấn thương mắt; bệnh võng mạc nội khoa; glôcôm; phẫu thuật khúc xạ giác mạc bằng laser excimer; lác, nhược thị và bệnh hốc mắt; phẫu thuật tạo hình mắt và bệnh lệ đạo. Các hướng này có vị thế học thuật đáng kể trong lĩnh vực tương ứng tại Trung Quốc.
Chuyên khoa bệnh giác mạc và đục thủy tinh thể. Đội ngũ có năng lực kỹ thuật và nghiên cứu vững mạnh, đạt tiến bộ ổn định trong nhiều năm. Chuyên khoa đạt kết quả nổi bật trong chăm sóc lâm sàng toàn diện, phương pháp phẫu thuật và nghiên cứu lý luận về bệnh giác mạc và đục thủy tinh thể; một số công trình đạt trình độ tiên tiến quốc tế. Trong điều trị đục thủy tinh thể, đội ngũ có kinh nghiệm chuyên sâu trong xác định thời điểm phẫu thuật đục thủy tinh thể bẩm sinh và tổ chức huấn luyện nhược thị có hệ thống sau phẫu thuật, điều trị đục thủy tinh thể phức tạp và sử dụng thủy tinh thể nội nhãn cao cấp. Trình độ chuyên môn và số lượng phẫu thuật điều trị cận thị nặng, loạn thị và đặt thủy tinh thể nội nhãn đa tiêu cự nằm trong nhóm dẫn đầu Trung Quốc. Khoa thực hiện ca đặt thủy tinh thể nội nhãn ba tiêu cự đầu tiên tại tỉnh Sơn Đông để điều trị đục thủy tinh thể và lão thị, đồng thời là ca thứ hai tại Trung Quốc; số ca phẫu thuật hằng năm vượt 1.000. Đội ngũ cũng đào tạo kỹ năng phẫu thuật cho bác sĩ phẫu thuật đục thủy tinh thể tại Sơn Đông và hướng dẫn chẩn đoán, chăm sóc đục thủy tinh thể ở các bệnh viện tuyến dưới. Vào giữa thập niên 1980, với sự hỗ trợ của đề tài Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc, nhóm nghiên cứu của chuyên khoa đã nghiên cứu thành công phương pháp bảo quản mảnh ghép giác mạc dài hạn bằng đông lạnh sâu. Phương pháp được áp dụng lâm sàng và theo thông tin của khoa vẫn duy trì vị thế hàng đầu trong nước. Sở Y tế tỉnh Sơn Đông phê duyệt việc thành lập ngân hàng mắt. Trong những năm gần đây, khoa hợp tác với Hội Chữ thập đỏ Thanh Đảo với tư cách đơn vị chịu trách nhiệm tiếp nhận và bảo quản giác mạc hiến tặng tại khu vực Thanh Đảo, góp phần tạo điều kiện triển khai ghép giác mạc quy mô lớn. Khoa có kinh nghiệm chuyên sâu về viêm giác mạc nhiễm trùng và ghép giác mạc nguy cơ cao; đến nay đã ghép giác mạc cho hơn 3.000 bệnh nhân. Khoa nhiều lần tổ chức các khóa đào tạo y khoa liên tục cấp quốc gia và cấp tỉnh về bệnh giác mạc nhiễm trùng, góp phần chăm sóc người mắc bệnh giác mạc và mù lòa. Trọng tâm nghiên cứu hiện nay của chuyên khoa là cơ chế bệnh sinh của bệnh giác mạc nhiễm trùng. Sáu đề tài Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc của chuyên khoa tập trung vào chủ đề này và đã có kết quả bước đầu, bao gồm tiến triển trong nghiên cứu cơ chế bệnh sinh của viêm giác mạc do nấm.
Giải phẫu bệnh mắt. Được thành lập năm 1956 dưới sự chủ trì của Giáo sư Pan Zuoxin, chuyên gia nhãn khoa nổi tiếng toàn quốc, đây là một trong những phòng thí nghiệm giải phẫu bệnh mắt sớm nhất tại Trung Quốc. Phòng thí nghiệm giải phẫu bệnh mắt phối hợp chặt chẽ với nhãn khoa lâm sàng và cung cấp bằng chứng chẩn đoán bệnh lý đáng tin cậy để hỗ trợ chẩn đoán và điều trị lâm sàng. Nhân viên kỹ thuật có nhiều kinh nghiệm lâm sàng và năng lực chẩn đoán giải phẫu bệnh vững vàng. Đến nay, phòng thí nghiệm đã tích lũy gần 20.000 lam bệnh lý, lưu trữ nhiều loại mẫu mô bệnh học cùng hồ sơ bệnh lý đầy đủ, nhờ đó có mức độ nhận biết và ảnh hưởng đáng kể tại Sơn Đông cũng như trong cộng đồng nhãn khoa rộng hơn ở Trung Quốc. Nhiều thế hệ cán bộ đã phát triển chuyên khoa, đào tạo những chuyên gia hàng đầu như Giáo sư Sun Weirong, nhà giải phẫu bệnh mắt nổi tiếng toàn quốc. Trong hơn mười năm qua, nhóm đã tiến hành nghiên cứu lâm sàng và cơ bản trên nhiều chủ đề, gồm phát hiện và ý nghĩa lâm sàng của gen sinh ung thư và gen ức chế khối u trong các khối u mắt, viêm giác mạc do nấm, nguyên nhân đục thủy tinh thể, cơ chế bệnh sinh glôcôm và bệnh võng mạc đái tháo đường, đạt được nhiều kết quả. Các chuyên khảo của nhóm gồm ấn bản thứ hai của Giải phẫu bệnh mắt, Atlas Giải phẫu bệnh mắt và Ung thư học mắt; sau khi được các chuyên gia có uy tín ở Trung Quốc đánh giá, các tác phẩm này được nhận định đạt trình độ tiên tiến quốc tế. Phòng thí nghiệm bệnh lý cũng đảm nhiệm giảng dạy và nghiên cứu cho bác sĩ nhãn khoa lâm sàng và học viên đến thực tập, đồng thời tiếp tục nâng cao năng lực kỹ thuật, tiêu chuẩn nghiên cứu và giảng dạy cũng như trang thiết bị.
Bệnh dịch kính-võng mạc và chấn thương mắt là một trong những chuyên khoa thế mạnh truyền thống của bệnh viện. Năm 1993, khoa thuộc nhóm trung tâm sớm triển khai phẫu thuật dịch kính-võng mạc tại Trung Quốc. Trong hơn hai thập kỷ, khoa đã đào tạo và tuyển dụng các chuyên gia nhãn khoa có nhiều năm kinh nghiệm chăm sóc và nghiên cứu bệnh dịch kính-võng mạc. Họ có kinh nghiệm phong phú và kỹ năng tiên tiến trong chẩn đoán, điều trị bệnh đáy mắt. Trang thiết bị chẩn đoán và điều trị không ngừng được hoàn thiện, các kỹ thuật và phương pháp mới ngày càng mở rộng. Khoa đã thực hiện hơn 10.000 ca phẫu thuật dịch kính-võng mạc phức tạp, với kết quả điều trị đạt trình độ tiên tiến trong nước. Các thủ thuật chuyên khoa gồm phẫu thuật điều trị nhiều dạng bong võng mạc và cắt dịch kính để điều trị bệnh võng mạc đái tháo đường tăng sinh, lỗ hoàng điểm, màng trước võng mạc, bong võng mạc phức tạp, xuất huyết dịch kính do nhiều nguyên nhân, chấn thương mắt phức tạp và viêm nội nhãn. Dịch vụ võng mạc nội khoa tiếp tục phát triển và cung cấp toàn diện chụp mạch huỳnh quang đáy mắt, chụp mạch hắc mạc bằng indocyanine green, laser võng mạc, liệu pháp quang động (PDT) và điều trị kháng VEGF cho thoái hóa hoàng điểm tuổi già cùng các dịch vụ khác. Khoa nhiều lần tổ chức khóa đào tạo liên tục về phẫu thuật dịch kính-võng mạc, góp phần thúc đẩy lĩnh vực này trên toàn tỉnh Sơn Đông. Khoa chủ trì một số đề tài nghiên cứu khoa học tự nhiên cấp tỉnh và thành phố, đồng thời thực hiện nghiên cứu đổi mới về bệnh võng mạc tăng sinh dịch kính-võng mạc và hoạt tính sinh học của biểu mô sắc tố võng mạc. Kết quả bao gồm hơn 100 bài báo trên các tạp chí nòng cốt quốc tế và quốc gia.
Glôcôm. Đây là một trong những chuyên khoa thế mạnh truyền thống của nhãn khoa tại Bệnh viện trực thuộc Đại học Thanh Đảo. Đội ngũ có kinh nghiệm về các thủ thuật glôcôm xâm lấn tối thiểu, gồm phẫu thuật cắt bè củng giác mạc phối hợp, đặt van dẫn lưu glôcôm và phẫu thuật phối hợp glôcôm-đục thủy tinh thể. Những kỹ thuật này cải thiện đáng kể kết quả điều trị, giảm đau khổ cho người bệnh, hạn chế biến chứng và giúp bảo tồn chức năng thị giác ở mức tối đa có thể. Phát huy thế mạnh tổng hợp của khoa, đội ngũ điều trị toàn diện, có hệ thống glôcôm tân mạch và các dạng glôcôm thứ phát khác, đồng thời tích lũy kinh nghiệm điều trị phong phú. Khoa là một trong những trung tâm sớm tại Trung Quốc triển khai chẩn đoán và điều trị sớm glôcôm bẩm sinh, đồng thời tiến hành khảo sát có hệ thống trong lĩnh vực này. Nhiều trẻ có nguy cơ mù lòa đã được cứu chữa và một số lượng đáng kể duy trì chức năng thị giác tốt đến tuổi trưởng thành. Khoa đã đưa vào sử dụng máy phân tích thị trường tự động hoàn toàn bằng máy tính thế hệ mới nhất và máy phân tích tiền phòng, được mô tả là tiên tiến quốc tế. Việc sử dụng kết hợp và diễn giải chính xác kết quả giúp theo dõi tổn thương chức năng thị giác và tiến triển bệnh ở người mắc glôcôm, đồng thời hỗ trợ sàng lọc và theo dõi những người có nguy cơ cao mắc bệnh.
Lác, nhược thị và bệnh hốc mắt. Nhóm lác và nhược thị, là đơn vị thành viên của ủy ban chuyên môn liên quan, có uy tín vững chắc ở Trung Quốc và tiêu chuẩn học thuật được mô tả là tiên tiến trong nước. Chẩn đoán và điều trị nhược thị cũng như một số loại lác đạt trình độ dẫn đầu tại Trung Quốc. Người bệnh và phụ huynh tin tưởng vào chăm sóc lâm sàng và tác phong chuyên môn của khoa; không xảy ra tai biến hoặc tranh chấp y tế. Bệnh nhân tìm đến điều trị từ khắp Trung Quốc, gồm Giang Tô, Giang Tây, Hà Bắc, Nội Mông, Tân Cương, Phúc Kiến, Cam Túc, ba tỉnh Đông Bắc và Hồng Kông. Khoa là một trong những trung tâm sớm tại Trung Quốc thực hiện cắt cơ chéo dưới dưới quan sát trực tiếp; kết quả phẫu thuật tốt, ít gây tổn thương hơn và tránh được nhiều biến chứng. Khoa cũng thuộc nhóm trung tâm sớm thực hiện đầy đủ các loại phẫu thuật lác đang được áp dụng tại Trung Quốc và quốc tế khi đó, gồm phẫu thuật các dạng phức tạp và ít gặp, phẫu thuật cơ trực đứng và điều trị rung giật nhãn cầu. Khoa tích cực thực hiện phẫu thuật lác vi phẫu, giúp giảm tổn thương phẫu thuật. Với lác ngoài từng lúc, khoa xây dựng kế hoạch phẫu thuật phù hợp cho từng bệnh nhân dựa trên loại lác, tuổi, tính chất công việc và các yếu tố khác. Phẫu thuật cá thể hóa không chỉ chỉnh độ lệch nhìn gần và nhìn xa mà quan trọng hơn còn tạo điều kiện cho thị giác hai mắt phát triển hoặc phục hồi.
Điều trị nhược thị nên bắt đầu càng sớm càng tốt và phát hiện sớm là chìa khóa điều trị. Khoa nhiều lần tổ chức các khóa đào tạo y khoa liên tục cấp quốc gia và cấp tỉnh về lác và nhược thị, đào tạo nhiều nhân viên chăm sóc mắt. Khoa cũng sử dụng truyền thông và các buổi nói chuyện công khai để nâng cao nhận thức cộng đồng về lác và nhược thị, qua đó giảm đáng kể độ tuổi phát hiện và điều trị các tình trạng này. Các chuyên gia nhãn khoa trên khắp Trung Quốc đánh giá cao những nỗ lực này. Khoa cho biết các hoạt động đó góp phần đào tạo chuyên gia lác và nhược thị ở Trung Quốc, nâng cao mặt bằng chẩn đoán và điều trị nói chung, đồng thời hỗ trợ công tác phòng ngừa và điều trị mù lòa của quốc gia.
Bệnh hốc mắt. Phẫu thuật hốc mắt có nguy cơ cao và đòi hỏi kỹ thuật chuyên môn cao; tương đối ít bệnh viện có thể thực hiện. Từ năm 2006, khoa đã củng cố nhóm chuyên môn này. Khoa cho biết các khối u ở bệnh nhân được điều trị đã được cắt bỏ hoàn toàn, đạt kết quả thỏa đáng và không có biến chứng nghiêm trọng. Đặc biệt, khi cắt u máu thể hang trong hốc mắt qua đường cùng đồ kết mạc, phẫu thuật viên chọn đường tiếp cận ngắn nhất đến khối u để tránh làm ảnh hưởng cấu trúc hốc mắt và gây tổn thương mí mắt, nhãn cầu. Phương pháp này rút ngắn thời gian phẫu thuật vốn kéo dài từ 1 đến 2 giờ xuống còn 10 đến 15 phút. Phương pháp cũng giảm tổn thương rộng và sẹo sau mổ nhìn thấy được thường gặp khi tiếp cận hốc mắt qua đường rạch da mặt. Đây là thủ thuật xâm lấn tối thiểu và đã mang lại lợi ích xã hội, kinh tế tích cực.
Phẫu thuật khúc xạ giác mạc bằng laser excimer. Phòng điều trị laser excimer của khoa nhãn khoa được thành lập năm 1995. Bệnh viện là đơn vị đầu tiên tại Thanh Đảo và thuộc nhóm bệnh viện sớm ở Trung Quốc thực hiện phẫu thuật khúc xạ giác mạc bằng laser excimer. Bệnh viện có đội ngũ phẫu thuật chuyên khoa phối hợp chặt chẽ, kỹ thuật vững và thiết bị tốt. Trong gần 20 năm, tiêu chuẩn chẩn đoán và điều trị của khoa luôn thuộc nhóm dẫn đầu Trung Quốc; kết quả phẫu thuật và độ an toàn cho người bệnh đạt mức tốt nhất. Bệnh viện cập nhật các tiến bộ quốc tế mới nhất, sử dụng hệ thống điều trị khúc xạ bằng laser excimer Eagle Vision Cool-Eye cùng thiết bị chuyên dụng để khám trước phẫu thuật. Dựa trên kết quả thăm khám và đặc điểm nghề nghiệp của từng bệnh nhân, đội ngũ có thể thực hiện nhiều loại phẫu thuật cá thể hóa nhằm đáp ứng nhu cầu cải thiện chất lượng thị giác khác nhau. Các phương pháp gồm SBK (tạo hình giác mạc dưới màng Bowman) với kỹ thuật bào mòn cá thể hóa, LASIK (tạo hình giác mạc tại chỗ có hỗ trợ laser), LASEK (cắt giác mạc dưới biểu mô có hỗ trợ laser), F-CAT (phẫu thuật cá thể hóa theo giá trị Q) và T-ACT (phẫu thuật cá thể hóa theo bản đồ địa hình giác mạc). Khoa mô tả phương pháp này là thực sự điều chỉnh điều trị cho từng mắt và hướng đến kết quả thị giác sau mổ làm hài lòng từng bệnh nhân hơn.
Phẫu thuật tạo hình mắt và bệnh lệ đạo. Chuyên khoa phẫu thuật tạo hình mắt được phát triển thành lĩnh vực riêng từ các dịch vụ hiện có của khoa. Dựa trên lý luận cơ bản của nhãn khoa và phẫu thuật tạo hình cùng thẩm mỹ hiện đại, chuyên khoa thực hiện nhiều loại phẫu thuật tái tạo và thẩm mỹ cho mí mắt và khuôn mặt. Phạm vi gồm chỉnh sửa bất thường, dị dạng của mắt, phần phụ của mắt và cấu trúc lân cận; cải thiện và phục hồi chức năng; và cải thiện thẩm mỹ, với mục tiêu phục hồi chức năng và nâng cao diện mạo. Thành viên chuyên khoa đã học tập tại các trung tâm phẫu thuật thẩm mỹ và tái tạo nổi tiếng, trong đó có Bệnh viện Tongren Bắc Kinh. Hiện đội ngũ thực hiện nhiều phẫu thuật tạo hình và thẩm mỹ mắt, bao gồm chỉnh sửa sụp mí bẩm sinh và mắc phải, cắt u lành tính và ác tính ở mí mắt kết hợp phẫu thuật tái tạo. Các ca phẫu thuật đạt kết quả tốt, ít gây tổn thương hơn, tránh được nhiều biến chứng và đem lại lợi ích xã hội, kinh tế tích cực.
Dịch vụ lệ đạo tập trung chẩn đoán và điều trị nhiều bệnh lý đường lệ, gồm viêm, chấn thương, khối u và dị tật bẩm sinh. Đội ngũ tích lũy nhiều kinh nghiệm lâm sàng trong chẩn đoán, điều trị bệnh lệ đạo và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp, có mục tiêu theo nguyên nhân, giúp nhiều bệnh nhân mắc bệnh lệ đạo phục hồi sức khỏe mắt. Giáo sư Wang Chuanfu, chuyên gia nhãn khoa hiện đang làm việc trong chuyên khoa này, có hơn 50 năm kinh nghiệm chăm sóc lâm sàng, giảng dạy và nghiên cứu nhãn khoa. Ông có kinh nghiệm phong phú và nhận định chuyên sâu trong điều trị bệnh lệ đạo, đặc biệt là bệnh tắc nghẽn lệ đạo bẩm sinh ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Bệnh nhân đến từ khắp tỉnh Sơn Đông; phụ huynh tin tưởng kỹ năng lâm sàng và tác phong chuyên môn của ông.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn
Bác sĩ
Hồ sơ bác sĩ: 21
刘桂香
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Phẫu thuật lác, bệnh mí mắt, u hốc mắt, gãy hốc mắt và các bệnh lý hốc mắt khác; phòng ngừa và điều trị nhược thị, cận thị
姜涛
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Chẩn đoán và điều trị chấn thương mắt, bệnh đáy mắt, bệnh giác mạc và đục thủy tinh thể.
孔庆兰
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Chuyên điều trị lác, nhược thị, các bệnh mắt ở trẻ em và bệnh lý hốc mắt