Khoa Xạ trị
Bệnh viện Ruijin trực thuộc Trường Y, Đại học Giao thông Thượng Hải
Khoa Xạ trị Ung bướu của Bệnh viện Nhân dân Thánh Tế (Ruijin) là một trong những đơn vị triển khai xạ trị sớm nhất tại Thượng Hải. Từ khi thành lập năm 1993, khoa luôn thực hiện triết lý điều trị đa mô thức (điều trị tổng hợp) trong trị liệu ung bướu, tuân theo tiêu chuẩn điều trị chuẩn hóa quốc tế. Những năm gần đây khoa phát triển nhanh chóng, tập hợp đội ngũ nhân tài chuyên sâu về xạ trị ung bướu. Hiện nay toàn khoa có 24 bác sĩ, trong đó có 1 bác sĩ trưởng khoa và 9 phó trưởng khoa. Khoa hiện có 6 máy gia tốc tuyến tính tại bệnh viện chính và Trung tâm Liều tăng proton điều trị ung bướu, cùng thiết bị trị liệu proton đồng bộ sản xuất trong nước đầu tiên. Số ca mới tiếp nhận mỗi năm gần 4.000. Hiện có 3 bệnh dòng, tổng cộng 115 giường, số người bệnh nội trú mỗi năm hơn 7.000 lượt, số lượt khám ngoại trú mỗi năm hơn 40.000. Khoa hiện có trang thiết bị xạ trị tiên tiến nhất thế giới, bao gồm dòng máy gia tốc cao cấp của Varian: máy gia tốc thông minh thích ứng (adaptive) Ethos, TrueBeam, Edge (thần tốc đao), Trilogy; hệ thống TOMO RADIXACT thế hệ thứ ba; máy gia tốc cao cấp Infinity của hãng Elekta và thiết bị trị liệu cận xạ (brachytherapy/afterloading) ba chiều. Trang thiết bị phần cứng và phần mềm tiên tiến có thể thực hiện tất cả các kỹ thuật xạ trị hiện đại nhất, bao gồm xạ trị thích ứng (Adaptive Radiotherapy), HyperArc (thần đao vi vòng cung), phẫu thuật/xạ trị định vị lập thể (SRS/SBRT), kỹ thuật VMAT (xạ trị cung chỉnh intensity), trị liệu cận xạ ba chiều dạng afterloading, v.v. Đồng thời, trung tâm đã hoàn thành thành công thử nghiệm lâm sàng trước khi đưa ra thị trường cho dự án thiết bị trị liệu proton đồng bộ sản xuất trong nước đầu tiên, và sắp bước vào vận hành chính thức. Dựa vào thế mạnh hợp tác của các khoa nội khoa ung bướu, ngoại khoa ung bướu, chẩn đoán hình ảnh, bệnh học của Bệnh viện Ruijin, khoa đã hình thành chuẩn mực chẩn đoán điều trị tổng hợp người bệnh ung bướu có nét đặc sắc, trình độ cao. Các nhóm chuyên gia chuyên khoa nhỏ của khoa bao gồm: u vùng đầu - cổ, u ác tính vú, u ngực, u hệ thống bạch huyết, u tiêu hóa, u hệ tiết niệu - sinh dục, u phụ khoa, u xương và mô mềm, u hệ thần kinh. Trong số người bệnh được khoa tiếp nhận, tỷ lệ kiểm soát tại chỗ và tỷ lệ sống sót 5 năm sau phẫu thuật ung thư vú lần lượt là 96,1% và 92,5%; với người bệnh ung thư cổ tử cung, tỷ lệ kiểm soát tại chỗ và sống sót 5 năm sau phẫu thuật lần lượt là 88% và 77%. Năm năm gần đây, thành viên khoa đã nhận được tài trợ 6 đề tài nghiên cứu cấp quốc gia, 10 đề tài cấp cục/thành phố Thượng Hải, và chủ trì nhiều nghiên cứu lâm sàng đa trung tâm toàn quốc do nhà nghiên cứu khởi xướng. Nhiều người được chọn vào các chương trình nhân tài cấp thành phố Thượng Hải và cấp Đại học Giao thông Thượng Hải. Trong 5 năm gần đây đã công bố 104 bài báo khoa học, trong đó có 71 bài SCI, hệ số tác động cao nhất của một bài là 14,92, tổng hệ số tác động SCI cộng dồn 240,36. Khoa đã nhận nhiều danh hiệu, như «Đơn vị văn minh thanh niên Thượng Hải», «Điểm mẫu xây dựng chi bộ Đảng», «Đoàn viên trẻ cộng sản của Đại học Giao thông Thượng Hải». Nhiều năm qua, khoa nỗ lực thực hiện dịch vụ điều trị một cửa lấy người bệnh làm trung tâm, lấy quản lý toàn trình của điều dưỡng chuyên khoa làm đặc sắc. Đội ngũ y tế hợp nhất các chuyên gia toàn diện: bác sĩ lâm sàng, nhà vật lý y học, kỹ sư mạng và bảo trì, kỹ thuật viên xạ trị chuyên nghiệp và điều dưỡng chuyên khoa; người bệnh có thể hoàn thành đăng ký, hẹn khám, khám ngoại trú, điều trị và theo dõi một cách liền mạch tại khu vực chờ xạ trị rộng rãi, ấm áp. Kiên định với nguyên tắc người bệnh không phải chờ đợi, không bỏ sót chẩn đoán, không mất dấu trong theo dõi, khoa mang đến cho người bệnh trải nghiệm điều trị tốt hơn với chất lượng dịch vụ y tế ấm áp, trật tự, hiệu quả, chính xác.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn