Cơ sở chính – Khoa Gây mê và Phẫu thuật (bao gồm phòng cung ứng)
Trung tâm Gây mê và Phẫu thuật Bệnh viện Nhân dân Thành phố Thanh Đảo là Cơ sở đào tạo chuyên ngành gây mê thuộc Cơ sở đào tạo chuẩn hóa bác sĩ nội trú cấp quốc gia, thành viên Liên minh Gây mê người cao tuổi cấp quốc gia, đơn vị thuộc Liên minh chuyên khoa điều trị gây mê cấp quốc gia, Cơ sở nghiên cứu y tế tiện nghi cấp quốc gia, Cơ sở đào tạo giảm đau sau phẫu thuật của Phân hội Gây mê thuộc Hội Y học Trung Quốc, Phòng thí nghiệm trọng điểm về gây mê lâm sàng thuộc lĩnh vực y tế và dược học gây mê tỉnh Sơn Đông, Cơ sở đào tạo kỹ thuật gây mê của Hội Gây mê tỉnh Sơn Đông, chuyên khoa lâm sàng trọng điểm tỉnh Sơn Đông, ngành học trọng điểm về y tế và sức khỏe Thành phố Thanh Đảo, Trung tâm Nghiên cứu Gây mê Lâm sàng Thành phố Thanh Đảo. Hiện nay, trung tâm đã phát triển thành một chuyên ngành lâm sàng cấp hai tích hợp lâm sàng, nghiên cứu khoa học và giảng dạy, sở hữu kỹ thuật y tế tiên tiến cùng hệ thống giảng dạy và nghiên cứu khoa học hoàn chỉnh. Trung tâm đảm nhiệm công tác đào tạo nghiên cứu sinh tiến sĩ của Đại học Thanh Đảo, đồng thời là cơ sở đào tạo nghiên cứu sinh thạc sĩ của Đại học Phục hồi chức năng, Đại học Thanh Đảo, Đại học Y khoa Sơn Đông số 2 và Đại học Dược Sơn Đông.
Trung tâm sở hữu đội ngũ nhân lực có chất lượng y tế vững mạnh, trình độ nghiên cứu khoa học nổi bật và hệ thống giáo dục y khoa hoàn chỉnh. Trong đó, Khoa Gây mê và Phẫu thuật cơ sở phía Đông có 33 phòng mổ, hơn 130 nhân viên y tế và 50 bác sĩ gây mê. Hiện có 2 người hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ, 12 người hướng dẫn nghiên cứu sinh thạc sĩ, 10 bác sĩ trưởng khoa, 10 bác sĩ phó trưởng khoa, 1 điều dưỡng trưởng, 5 điều dưỡng phó trưởng; trong đội ngũ bác sĩ, tỷ lệ người có bằng tiến sĩ là 9.5%, tỷ lệ người có bằng thạc sĩ là 100%; Khoa Gây mê và Phẫu thuật cơ sở chính có 20 phòng mổ, 28 bác sĩ gây mê, trong đó có 3 bác sĩ trưởng khoa, 8 bác sĩ phó trưởng khoa và 27 người có trình độ từ thạc sĩ trở lên.
Trung tâm được trang bị robot phẫu thuật Da Vinci, máy siêu âm Doppler màu, máy theo dõi độ sâu gây mê, máy theo dõi độ bão hòa oxy não, máy tuần hoàn ngoài cơ thể, ống soi phế quản mềm, nhiều loại máy gây mê và máy theo dõi cao cấp cùng các thiết bị khác; trên cơ sở các địa điểm chẩn đoán và điều trị đa dạng cùng dịch vụ y tế toàn diện, trung tâm bao gồm 10 địa điểm hành nghề: phòng khám gây mê, phòng mổ trung tâm tại tòa nhà A và tòa nhà B, trung tâm phẫu thuật sản khoa, trung tâm phẫu thuật trong ngày, trung tâm y tế tiện nghi (phòng nội soi tiêu hóa không đau, phòng ERCP, phòng nội soi phế quản mềm), phòng mổ nhãn khoa, phòng mổ can thiệp của khoa X-quang, phòng mổ của trung tâm y học sinh sản và phòng phẫu thuật phá thai phụ khoa. Trung tâm có hơn 10 nhóm chuyên ngành phụ, bao gồm các hướng gây mê phẫu thuật chỉnh hình khớp, gây mê người cao tuổi, gây mê tim lồng ngực, gây mê nhi khoa, gây mê sản khoa, chẩn đoán và điều trị tiện nghi, gây mê tai mũi họng và mắt, gây mê tuần hoàn ngoài cơ thể, gây mê phẫu thuật thần kinh và các hướng khác; mỗi nhóm chuyên ngành phụ đã hình thành ưu thế kỹ thuật và đặc trưng học thuật trong lĩnh vực của mình.
Bao gồm gây mê cho các chuyên khoa phẫu thuật lâm sàng, cấp cứu và điều trị bệnh nhân nặng, chẩn đoán và điều trị đau, đánh giá trước gây mê, hồi phục sau gây mê, chẩn đoán và điều trị tiện nghi (nội soi tiêu hóa không đau, sinh không đau, chọc hút trứng không đau và các dịch vụ khác).
I. Đặc điểm chuyên ngành
1. Nền tảng cấp cao, năng lực toàn diện: là Cơ sở đào tạo chuyên ngành gây mê thuộc Cơ sở đào tạo chuẩn hóa bác sĩ nội trú cấp quốc gia, thành viên Liên minh Gây mê người cao tuổi cấp quốc gia, Cơ sở nghiên cứu y tế tiện nghi cấp quốc gia và nhiều cơ sở, liên minh cấp quốc gia khác. Đồng thời, trung tâm cũng là chuyên khoa lâm sàng trọng điểm tỉnh Sơn Đông, Phòng thí nghiệm trọng điểm về gây mê lâm sàng thuộc lĩnh vực y tế và dược học gây mê tỉnh Sơn Đông, cũng như ngành học trọng điểm về y tế và sức khỏe Thành phố Thanh Đảo.
2. Cơ cấu nhân tài hoàn chỉnh, coi trọng cả trình độ học vấn cao và năng lực chuyên môn: tỷ lệ người có bằng thạc sĩ trong đội ngũ bác sĩ đạt 100%, tỷ lệ người có bằng tiến sĩ đạt 9.5%. Trung tâm có nhiều người hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ và thạc sĩ, cùng các nhân tài như nhân tài khoa học và công nghệ trẻ được tỉnh Sơn Đông hỗ trợ, nhân tài ưu tú của Thành phố Thanh Đảo và những người dẫn đầu chuyên ngành xuất sắc; cơ cấu đội ngũ hợp lý.
3. Chuyên ngành phụ được phân chia cụ thể, địa điểm hành nghề đa dạng: bao gồm 10 địa điểm hành nghề như phòng khám gây mê, các loại phòng mổ trung tâm, phòng nội soi tiêu hóa không đau, phòng mổ can thiệp và các địa điểm khác. Bên trong trung tâm có hơn 10 nhóm chuyên ngành phụ như người cao tuổi, tim lồng ngực, nhi khoa, sản khoa, chỉnh hình khớp, phẫu thuật thần kinh và chẩn đoán điều trị tiện nghi; mỗi nhóm chuyên ngành phụ đều hình thành đặc trưng học thuật riêng.
4. Phối hợp đổi mới và phát triển y tế, giảng dạy, nghiên cứu: về nghiên cứu khoa học, trong 5 năm gần đây, trung tâm đã được phê duyệt hơn 20 đề tài các cấp, bao gồm Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia, công bố hơn 100 bài báo SCI và bài báo trên các tạp chí cốt lõi tiếng Trung, đồng thời được phê duyệt nhiều bằng sáng chế và giải thưởng khoa học công nghệ cấp tỉnh, thành phố. Về giảng dạy, với tư cách là cơ sở đào tạo nghiên cứu sinh thạc sĩ, tiến sĩ của nhiều trường đại học và cơ sở đào tạo chuẩn hóa cấp quốc gia, trung tâm đào tạo trung bình hằng năm một số lượng lớn học viên xuất sắc; học viên nhiều lần đạt thành tích cao trong các cuộc thi kỹ năng các cấp.
5. Tầm nhìn quốc tế và trách nhiệm xã hội: không ngừng nâng cao mức độ quốc tế hóa; hơn 10 lượt nhân viên đã lần lượt đến các cơ sở y tế hàng đầu quốc tế tại Mỹ, Singapore, Áo, Đức, Pháp và các quốc gia khác để đào tạo nâng cao. Đồng thời, 20 lượt nhân viên đã tích cực đảm nhiệm các nhiệm vụ hỗ trợ y tế ở nước ngoài (Tanzania, Tonga), hỗ trợ Tây Tạng, hỗ trợ Tân Cương, hỗ trợ Cam Túc và các nhiệm vụ khác.
II. Ưu thế kỹ thuật
1. Năng lực quản lý gây mê cho phẫu thuật khó và bệnh nặng cao: trung tâm có số lượng phẫu thuật hằng năm rất lớn (hơn 80.000 ca), trong đó tỷ lệ phẫu thuật cấp độ 4 có độ khó cao vượt quá 55%; trung tâm có nhiều kinh nghiệm trong việc tích cực triển khai quản lý gây mê cho các phẫu thuật khó.
2. Nhiều kỹ thuật cốt lõi giữ vị trí dẫn đầu trong tỉnh: trong các lĩnh vực kỹ thuật y tế cốt lõi như bảo vệ chức năng cơ quan trong giai đoạn chu phẫu, gây mê phục hồi nhanh, gây mê phẫu thuật tim lồng ngực và giảm đau khi sinh, trung tâm đạt trình độ dẫn đầu trong tỉnh Sơn Đông.
3. Chuyển giao lâm sàng các kỹ thuật gây mê tiên tiến: tập trung nghiên cứu các hướng kỹ thuật như phong bế thần kinh dưới hướng dẫn siêu âm, quản lý đau sau phẫu thuật, quản lý đường thở khó và sức khỏe não trong giai đoạn chu phẫu; đồng thời đã thành công trong việc chuyển hóa những đổi mới nghiên cứu khoa học này thành ưu thế lâm sàng.
4. Kỹ thuật y tế tiện nghi toàn diện: với tư cách là Cơ sở nghiên cứu y tế tiện nghi cấp quốc gia, trung tâm ứng dụng rộng rãi ưu thế kỹ thuật vào các lĩnh vực như nội soi tiêu hóa không đau, ERCP, nội soi phế quản mềm, phá thai phụ khoa, chọc hút trứng tại trung tâm y học sinh sản và giảm đau khi sinh, nỗ lực củng cố giới hạn an toàn của “gây mê an toàn” và nâng cao chất lượng của “gây mê chất lượng cao”.
Về nghiên cứu khoa học, trung tâm tập trung vào các hướng nghiên cứu chính như bảo vệ chức năng cơ quan trong giai đoạn chu phẫu, sức khỏe não trong giai đoạn chu phẫu, phong bế thần kinh dưới hướng dẫn siêu âm, quản lý đau sau phẫu thuật và quản lý đường thở khó. Trong 5 năm gần đây, trung tâm đã được phê duyệt hơn 20 đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, bao gồm Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia, Quỹ Mở của Phòng thí nghiệm trọng điểm thuộc Bộ Giáo dục, Quỹ Khoa học Tự nhiên tỉnh Sơn Đông, Quỹ Khoa học Tự nhiên Thành phố Thanh Đảo và các quỹ khác; công bố hơn 50 bài báo SCI và hơn 70 bài báo trên các tạp chí cốt lõi tiếng Trung. Trung tâm đã đạt 8 giải thưởng cấp tỉnh, thành phố như Giải Tiến bộ Khoa học và Công nghệ tỉnh Sơn Đông, Giải Khoa học Công nghệ Y học tỉnh Sơn Đông, Giải Kỹ thuật Mới của Hội Y học tỉnh Sơn Đông, Giải Khoa học và Công nghệ Thành phố Thanh Đảo; được phê duyệt hơn 10 bằng sáng chế, đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy đổi mới nghiên cứu khoa học và chuyển giao lâm sàng trong lĩnh vực gây mê học của tỉnh.
Về giảng dạy lâm sàng, trung tâm đảm nhiệm nhiệm vụ giảng dạy bậc đại học của Đại học Hải dương Trung Quốc và Đại học Phục hồi chức năng, trung bình hằng năm đào tạo 10 học viên tốt nghiệp thạc sĩ. Với tư cách là cơ sở đào tạo chuẩn hóa bác sĩ nội trú khoa gây mê cấp quốc gia, khoa có hoạt động giảng dạy phong phú, tổ chức 4 hoạt động giảng dạy mỗi tuần, không định kỳ tổ chức thuyết trình ca bệnh và thi kỹ năng, khơi dậy nhiệt huyết học tập và ý thức đổi mới của học viên, hỗ trợ học viên tham gia các cuộc thi học thuật và kỹ năng cấp quốc gia, tỉnh, thành phố; trong 5 năm gần đây, tổng cộng hơn 20 học viên của khoa đã đạt giải trong các cuộc thi các cấp.
Trung tâm đã lần lượt đào tạo 1 nhân tài khoa học và công nghệ trẻ được tỉnh Sơn Đông hỗ trợ, 3 nhân tài xuất sắc của Thành phố Thanh Đảo, 3 người dẫn đầu chuyên ngành xuất sắc về y tế và sức khỏe của Thành phố Thanh Đảo, 4 nhân tài trẻ xuất sắc về y tế và sức khỏe của Thành phố Thanh Đảo và 2 nhân tài Khu Thị Nam.
Gây mê cho phẫu thuật tim và mạch máu lớn với hạ thân nhiệt sâu và ngừng tuần hoàn; gây mê cho phẫu thuật đánh thức trong khi mổ thần kinh ngoại khoa; gây mê cho phẫu thuật nội soi ổ bụng/nội soi lồng ngực có robot Da Vinci hỗ trợ; gây mê cho phẫu thuật TAVI, phẫu thuật Liwen trong ngoại khoa tim; quản lý gây mê chu phẫu cho bệnh nhân cao tuổi suy yếu; gây mê cho phẫu thuật cắt gan điều trị ung thư gan dưới sự kiểm soát áp lực tĩnh mạch trung tâm thấp; gây mê cho đốt điện bằng năng lượng tần số vô tuyến điều trị rung nhĩ và đóng tiểu nhĩ trái không sử dụng tia X; gây mê cho phẫu thuật đốt điện bằng năng lượng tần số vô tuyến khử giao cảm động mạch thận qua da; gây mê cho phẫu thuật nội soi lồng ngực không đặt nội khí quản, bảo tồn hô hấp tự chủ.
Thời gian chỉnh sửa: 2026/9/17 8:28:42
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn