Buồng bệnh số 1 khoa xoa bóp Tuina(南岗总院)
Khoa Tuina, Khu điều trị nội trú số 1
2024.5
I. Tình hình chung của khoa: Khoa Tuina thuộc Bệnh viện trực thuộc số 2 của Trường Đại học Y học cổ truyền Trung Quốc Hắc Long Giang là chuyên ngành trọng điểm cấp quốc gia về tuina, đồng thời là chuyên khoa và chuyên ngành trọng điểm cấp tỉnh về đau cổ, vai, thắt lưng và chân. Hiện khoa có 5 khu điều trị nội trú, 6 phòng khám ngoại trú tiêu chuẩn, 300 giường bệnh nội trú và 70 nhân viên y tế, điều dưỡng, trong đó có 6 người có chức danh chuyên môn cao cấp, 3 người có bằng tiến sĩ và 23 người có bằng thạc sĩ. Mỗi năm, khoa đào tạo 18 học viên cao học thạc sĩ đến từ khắp các địa phương trong cả nước.
II. Người đứng đầu chuyên ngành trọng điểm cấp quốc gia: Lý Đồng Quân, bác sĩ trưởng cấp I quốc gia, giáo sư cấp II quốc gia, người hướng dẫn học viên cao học thạc sĩ, bác sĩ y học cổ truyền Trung Quốc nổi tiếng cấp tỉnh, Danh y Long Giang khóa đầu tiên, chuyên gia trẻ và trung niên cấp tỉnh có đóng góp xuất sắc, người được hưởng phụ cấp chuyên gia của chính quyền tỉnh, bác sĩ chăm sóc sức khỏe cho lãnh đạo tỉnh và thành phố, Chủ tịch Hội Tuina tỉnh, Phó Chủ tịch Hội Tuina quốc gia, chuyên gia và cố vấn của Chương trình Sức khỏe Vận động viên thuộc Ủy ban Olympic Quốc tế.
III. Phương pháp điều trị: Khoa Tuina chủ yếu sử dụng phương pháp kết hợp y học cổ truyền Trung Quốc và y học phương Tây để điều trị bệnh. Phương pháp y học cổ truyền Trung Quốc: tuina (tuina huyệt vị, tuina chỉnh phục), châm cứu và cứu (ôn châm, điện châm, thủy châm), giác hơi (giác hơi chớp, giác hơi ra máu, giác hơi di chuyển), cạo gió, liệu pháp đưa thuốc qua da có định hướng theo y học cổ truyền Trung Quốc, tắm thuốc Trung Quốc, xông hơi thuốc Trung Quốc và thuốc y học cổ truyền Trung Quốc (uống, truyền tĩnh mạch, dùng ngoài). Phương pháp y học phương Tây: điều trị bằng sóng xung kích, điều trị bằng ánh sáng carbon, điều trị bằng laser, điều trị bằng ánh sáng WIRA, điều trị bằng vi sóng, điều trị kéo giãn hoàn toàn tự động điều khiển bằng máy tính và thuốc Tây (uống, truyền tĩnh mạch, dùng ngoài).
IV. Các bệnh được điều trị: thoái hóa cột sống cổ, thoát vị đĩa đệm thắt lưng, viêm khớp cùng-chậu, viêm khớp háng, viêm khớp gối, viêm quanh khớp vai, viêm khớp khuỷu tay và cổ tay, viêm bao gân, di chứng sau đột quỵ, liệt nửa người, liệt mặt, liệt hai chi dưới, di chứng sau gãy xương, mất ngủ, lo âu, trầm cảm, đau đầu, chóng mặt, ù tai, hội chứng Parkinson, tật vẹo cổ ở trẻ em, lác mắt ở trẻ em, khó tiêu ở trẻ em và bại não ở trẻ em.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn