Khoa Tim mạch, Khu 2(南岗总院)
Buồng bệnh số 2, Khoa Bệnh tim
2022.11
Khoa Bệnh tim II có 15 nhân viên y tế và điều dưỡng: 7 bác sĩ, trong đó có 1 bác sĩ chủ nhiệm, 1 bác sĩ phó chủ nhiệm, 2 nghiên cứu sinh sau tiến sĩ, 3 tiến sĩ và 4 thạc sĩ; 8 điều dưỡng, trong đó có 2 điều dưỡng trưởng và 6 điều dưỡng viên. Hiện có 22 giường bệnh, được trang bị nhiều thiết bị chẩn đoán và điều trị chuyên khoa, gồm trạm theo dõi trung tâm điện tâm đồ và huyết áp, máy điện tâm đồ động, máy đo huyết áp động, máy tập vận động dạng băng chuyền, máy trị liệu xung tần số trung bình, máy vật lý trị liệu vi sóng, máy trị liệu áp suất khí, cốc giác lửa, cốc cứu ấm và các thiết bị khác.
Kỹ thuật chẩn đoán và điều trị mang đặc trưng Y học cổ truyền Trung Quốc: đã triển khai nhiều kỹ thuật mới và phương pháp mới điều trị ngoài cơ thể mang đặc trưng của Y học cổ truyền Trung Quốc, gồm cứu ngải, dán huyệt, ấn hạt huyệt tai, xung tần số trung bình, châm cứu, giác hơi, cạo gió và điều trị áp suất khí.
Đặc điểm của khoa
1.Cao phương và thủy hoàn
Cao phương và thủy hoàn coi trọng khí, huyết, âm và dương của cơ thể con người, đồng thời chủ trương “mùa xuân và mùa hè dưỡng dương, mùa thu và mùa đông dưỡng âm”. Điều trị dự phòng vào hai mùa xuân và thu có thể phòng ngừa hiệu quả bệnh tái phát, với hiệu quả rõ rệt. Đối với các bệnh mạn tính như bệnh tim mạn tính, tăng huyết áp và đái tháo đường, cao phương và thủy hoàn được sử dụng linh hoạt, kết hợp công và bổ, cho hiệu quả điều trị rõ rệt; người bệnh dùng thuốc thuận tiện và vị thuốc dễ uống. Đối với một số bệnh nhân mắc bệnh mạn tính, đặc biệt là các bệnh thuộc hệ tim mạch và mạch máu não, hệ tiêu hóa và hệ nội tiết có thời gian mắc bệnh kéo dài, dễ tái phát, cao phương và thủy hoàn có hiệu quả điều trị rất tốt. Dùng cao phương và thủy hoàn trong thời kỳ thuyên giảm có thể nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể, cải thiện lượng máu cung cấp cho tim và não, đồng thời giảm các cơn phát bệnh trong giai đoạn cấp tính.
2. Liệu pháp dán huyệt
Thông qua tác dụng trực tiếp của thuốc lên các huyệt vị cụ thể, liệu pháp dán huyệt có thể làm giãn mạch máu tại chỗ, tăng tốc độ lưu thông máu, từ đó hoạt huyết hóa ứ, tiêu sưng giảm đau. Thuốc cũng có thể thẩm thấu qua da, đi vào tuần hoàn máu, đến thẳng ổ bệnh và phát huy tác dụng của thuốc. Từ Đại Xuân từng nói: “Thuốc sắc không đủ để chữa hết mọi bệnh… dùng cao thuốc dán lên, bít khí của nó lại, khiến dược tính từ lỗ chân lông đi vào tấu lý, thông kinh hoạt lạc, hoặc nâng lên mà đưa ra, hoặc công mà tán đi; như vậy còn có tác dụng mạnh hơn uống thuốc.” Đặc biệt thích hợp với các bệnh như bệnh tim mạch vành kèm đau thắt ngực, chứng loạn thần kinh tim và rối loạn nhịp tim.
3. Liệu pháp ấn hạt huyệt tai
Tai có mối quan hệ mật thiết với kinh mạch. Trong quá trình tuần hành của 12 kinh mạch, có kinh mạch trực tiếp đi vào trong tai, có kinh mạch phân bố xung quanh vành tai. Tai có mối quan hệ hết sức mật thiết với ngũ tạng lục phủ, là bộ phận quan trọng kết nối bề mặt cơ thể với các tạng phủ bên trong. Sự sắp xếp các huyệt trên toàn bộ vành tai giống như một thai nhi bị đảo ngược trong tử cung. Các tạng phủ đều có những điểm tương ứng khác nhau trên vành tai; hơn nữa, vành tai có hệ thần kinh rất phong phú và liên hệ mật thiết với toàn thân. Khi các tạng phủ hoặc cơ thể phát bệnh, tại những vị trí tương ứng trên vành tai thường xuất hiện các phản ứng như nhạy cảm đau khi ấn và đổi màu. Liệu pháp ấn tai điều chỉnh ngũ tạng lục phủ và hệ thống kinh lạc thông qua kích thích các huyệt tai, nhằm đạt được sự điều hòa cân bằng âm dương của tạng phủ, làm thông kinh lạc, dưỡng tâm an thần. Đặc biệt thích hợp với các bệnh như bệnh tim mạch vành kèm đau thắt ngực, chứng loạn thần kinh tim, rối loạn nhịp tim, đái tháo đường, tăng lipid máu, béo phì và mất ngủ.
4. Liệu pháp cạo gió
Nguyên lý cơ bản của cạo gió bắt nguồn từ học thuyết kinh lạc, loại bỏ huyết ứ bám trên thành mạch máu, sau đó huyết ứ được máu hấp thu trở lại vào mạch máu và được thải ra ngoài qua nước tiểu sau khi tuần hoàn khắp cơ thể. Liệu pháp cạo gió sử dụng một số dụng cụ đặc biệt để tạo kích thích có lợi lên những bộ phận nhất định trên bề mặt cơ thể. Các vết sa sinh ra do sự kích thích này được truyền vào bên trong cơ thể thông qua sự dẫn truyền hoặc tác dụng phản xạ của kinh lạc, kích thích và điều chỉnh các chức năng sinh lý rối loạn trong cơ thể, làm cho âm dương đạt trạng thái cân bằng tương đối, chức năng giữa các bộ phận phối hợp với nhau, từ đó đạt được tác dụng chữa bệnh và tăng cường khả năng chống bệnh của cơ thể. Đặc biệt thích hợp với các bệnh như bệnh tim mạch vành kèm đau thắt ngực, chứng loạn thần kinh tim, đái tháo đường, tăng lipid máu và béo phì.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn