Khoa Ngoại Mạch máu, Tuyến giáp và Vú
Hiện khoa có 2 bác sĩ chuyên khoa chính, 2 bác sĩ chuyên khoa phó, 1 bác sĩ chuyên khoa và 1 bác sĩ nội trú. Khoa có 25 giường bệnh, được trang bị hai máy chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) nhập khẩu, ống nội soi tuyến vú độ phân giải siêu cao, máy sinh thiết vú ít xâm lấn, nội soi độ phân giải cao, dao siêu âm và các thiết bị phẫu thuật lớn khác. Dựa trên bệnh viện tuyến ba hạng A y học kết hợp Đông - Tây y, khoa đảm nhận công tác nghiên cứu, giảng dạy và lâm sàng. Khoa chủ yếu chẩn đoán và điều trị các bệnh động mạch, tĩnh mạch toàn thân trừ tim và não (bao gồm các loại bóc tách động mạch chủ và phình động mạch chủ ngực - bụng, điều trị hoàn toàn không vết mổ cho phình động mạch chủ bụng phức tạp và tắc xơ vữa động mạch chi dưới, điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới và thuyên tắc phổi, điều trị bằng sóng cao tần trong lòng mạch ít xâm lấn cho tĩnh mạch hiển lớn, v.v.), phẫu thuật triệt căn bảo tồn vú cho ung thư vú, phẫu thuật triệt căn cải biên, phẫu thuật triệt căn ung thư vú qua nội soi, cắt khối u vú bằng dao xoay, phẫu thuật triệt căn ung thư tuyến giáp và phẫu thuật tuyến giáp qua nội soi đường nách hoặc đường vú; có kinh nghiệm đặc biệt phong phú trong điều trị ung thư vú giai đoạn sớm bằng Đông - Tây y kết hợp, thường quy tổ chức hội chẩn đa chuyên khoa (MDT) để xây dựng phác đồ điều trị cá nhân hóa cho u vú và tuyến giáp.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn
Bác sĩ
Hồ sơ bác sĩ: 4
司马军
Bác sĩ chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Tốt nghiệp Khoa Y lâm sàng, Đại học Y Chiết Giang; làm việc trong lĩnh vực ngoại khoa tổng quát hơn 30 năm; chuyên chẩn đoán, điều trị và phẫu thuật ít xâm lấn bệnh lành tính, ác tính tuyến giáp, tuyến cận giáp, vú; phẫu thuật điều trị lao hạch cổ.
方迪龙
Bác sĩ phó chủ nhiệm y học kết hợp Trung-Tây
Lĩnh vực lâm sàng
Đọc thêm
Chuyên phẫu thuật các bệnh mạch máu thường gặp như phình động mạch chủ ngực và bụng, bóc tách động mạch chủ, tắc nghẽn xơ vữa động mạch chi dưới, huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới, thuyên tắc phổi, can thiệp nội mạch điều trị nhiều dạng tắc mạch động mạch ngoại biên, và điều trị sóng cao tần nội tĩnh mạch ít xâm lấn cho giãn tĩnh mạch hiển lớn.