Trung tâm gây mê và phẫu thuật
Khoa Gây mê hồi sức, Bệnh viện Nhân dân thành phố Đông Quan, được thành lập vào năm 1957 và chính thức trở thành chuyên ngành gây mê lâm sàng độc lập vào năm 1990. Sau nhiều thập kỷ phát triển chuyên sâu, hiện nay khoa đã trở thành một chuyên ngành tổng hợp hiện đại, tích hợp chẩn đoán và điều trị lâm sàng, giảng dạy và đào tạo, nghiên cứu và đổi mới. Khoa là chuyên khoa lâm sàng trọng điểm của Đông Quan, là chuyên ngành được công nhận thuộc một đơn vị của cơ sở thử nghiệm lâm sàng thuốc quốc gia, là một trong những cơ sở đào tạo bác sĩ nội trú theo chuẩn hóa quốc gia đầu tiên, đồng thời được lựa chọn vào Dự án xây dựng chuyên khoa lâm sàng trọng điểm tỉnh Quảng Đông năm 2024. Khoa đạt nhiều thành tích nổi bật trong đào tạo nhân lực và đổi mới nghiên cứu. Năm 2019, khoa được phê duyệt là đơn vị thí điểm giảm đau khi sinh đợt đầu tiên của quốc gia; năm 2022, mở phòng khám gây mê chẩn đoán và điều trị không đau; tháng 3 năm 2024, thành lập khoa điều trị đau; và tháng 11 cùng năm, bổ sung phòng khám điều trị gây mê chứng mất ngủ kháng trị. Khoa không ngừng mở rộng ranh giới dịch vụ y tế và xây dựng hệ thống y tế tiện nghi bao phủ toàn bộ chu kỳ chăm sóc.
Quy mô khoa và cơ sở vật chất
Trung tâm gây mê-phẫu thuật có quy hoạch hoàn chỉnh, bao gồm các phòng gây mê và phòng mổ tại cơ sở Hồng Lâu và cơ sở Phổ Tế, khoa y học giảm đau, trung tâm phẫu thuật trong ngày, trung tâm chẩn đoán và điều trị không đau, cùng Phòng thí nghiệm trọng điểm về Gây mê và Bảo vệ cơ quan thành phố Đông Quan. Hoạt động của trung tâm mở rộng đến toàn bộ các lĩnh vực gồm gây mê lâm sàng, hồi tỉnh sau gây mê, AICU (đang xây dựng), y tế tiện nghi, chẩn đoán và điều trị đau, phòng khám điều trị gây mê, chăm sóc điều dưỡng gây mê và phòng mổ, hình thành mô hình phát triển chuyên ngành lớn theo hướng quy mô hóa và chuyên môn hóa.
Trung tâm có tổng cộng 66 phòng mổ dòng khí tầng và phòng thủ thuật không đau, 6 phòng mổ hybrid và 34 giường tại phòng hồi tỉnh, với số ca phục vụ gây mê hằng năm vượt 90.000 ca. Trung tâm được trang bị máy gây mê và máy thở Ohmeda, Drager, đèn soi thanh quản video, ống soi phế quản sợi quang, máy theo dõi đa chức năng, máy tim phổi nhân tạo cho tuần hoàn ngoài cơ thể STOCKERT S5, máy theo dõi cung lượng tim liên tục, máy phân tích khí máu, máy siêu âm chẩn đoán Doppler màu, máy theo dõi điện não, thiết bị siêu âm tim qua thực quản, thiết bị bảo vệ nhiệt độ, máy thu hồi máu cao cấp và các thiết bị tiên tiến quốc tế khác, tạo nền tảng cơ sở vật chất vững chắc cho an toàn phẫu thuật và chất lượng chẩn đoán, điều trị.
Hoạt động cốt lõi và kỹ thuật đặc trưng
Hoạt động của khoa bao phủ bốn lĩnh vực cốt lõi: gây mê lâm sàng, cấp cứu điều trị bệnh nặng, y tế tiện nghi, chẩn đoán và điều trị đau. Khoa đã lần lượt triển khai các dịch vụ chẩn đoán và điều trị tiện nghi như nội soi tiêu hóa không đau, nội soi phế quản sợi quang không đau, lấy noãn không đau, điều trị afterloading không đau, phá thai không đau và giảm đau khi sinh. Khoa thực hiện thành thạo gây mê cho các phẫu thuật phức tạp như phẫu thuật tim và mạch máu lớn, phẫu thuật lồng ngực, đại phẫu ổ bụng, phẫu thuật sơ sinh; đồng thời triển khai các kỹ thuật chẩn đoán và điều trị đau chính xác, ít xâm lấn như kích thích điện tủy sống, ép bóng hạch thần kinh sinh ba qua chọc kim qua da để điều trị đau dây thần kinh sinh ba, và bơm morphine trong khoang dưới nhện cấy ghép hoàn toàn.
Hiện nay, khoa đã hình thành nhiều kỹ thuật đặc thù dẫn đầu ngành, chủ yếu gồm: kỹ thuật gây mê tim-lồng ngực, bao gồm phẫu thuật lồng ngực bảo tồn hô hấp tự chủ và phẫu thuật tim có tuần hoàn ngoài cơ thể; kỹ thuật giảm đau PCA đa mô thức bằng phong bế thần kinh dưới hướng dẫn siêu âm; kỹ thuật bảo vệ chức năng các cơ quan quan trọng ở bệnh nhân cao tuổi; và kỹ thuật bảo tồn máu ở bệnh nhân phẫu thuật cấp cứu nguy kịch. Với kỹ thuật tinh nhuệ, khoa bảo vệ sự an toàn trong chẩn đoán và điều trị cũng như trải nghiệm thoải mái của người bệnh.
Đào tạo nhân lực và xây dựng đội ngũ
Khoa có đội ngũ chuyên môn y tế, điều dưỡng và kỹ thuật với cơ cấu hợp lý, kỹ thuật thành thạo và kinh nghiệm phong phú; hiện có 258 nhân viên y tế, điều dưỡng và kỹ thuật. Trong đội ngũ bác sĩ có 8 người giữ chức danh chuyên môn cao cấp chính, 20 người giữ chức danh cao cấp phó và 34 người giữ chức danh trung cấp. Đội ngũ còn có 2 giảng viên hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ, 4 giảng viên hướng dẫn học viên cao học, 1 đồng hướng dẫn sau tiến sĩ, 2 nhân tài y tế dẫn đầu của Đông Quan, 3 bác sĩ nổi tiếng của Đông Quan và 2 nhân tài y tế trẻ xuất sắc của các bệnh viện công lập Đông Quan. Với tư cách là cơ sở được cấp phép đào tạo nghiên cứu sinh tiến sĩ và thạc sĩ của Đại học Y khoa Nam Phương, cơ sở được cấp phép đào tạo học viên cao học của Đại học Tế Nam và Đại học Y khoa Quảng Đông, đồng thời là trạm lưu động sau tiến sĩ của Đại học Y khoa Nam Phương, khoa đã xây dựng nền tảng cốt lõi đào tạo nhân tài gây mê hồi sức trình độ cao.
Thành tựu nghiên cứu và đổi mới
Khoa có năng lực nghiên cứu vững mạnh. Khoa đã hoàn tất đăng ký chuyên môn của cơ sở thử nghiệm lâm sàng quốc gia về thuốc và thiết bị y tế, đồng thời được phê duyệt thành lập Phòng thí nghiệm trọng điểm về Gây mê và Bảo vệ cơ quan thành phố Đông Quan. Khoa đã tiếp nhận lũy kế gần 40 thử nghiệm lâm sàng thuốc đăng ký (GCP), trong đó có 17 thử nghiệm lâm sàng thuốc đổi mới loại I; chủ trì 3 dự án nghiên cứu cấp quốc gia, 4 đề tài cấp tỉnh và nhiều dự án nghiên cứu trọng điểm cấp thành phố; kinh phí nghiên cứu đạt hơn 13 triệu nhân dân tệ.
Thành quả nghiên cứu rất phong phú. Khoa lần lượt đạt 1 giải nhì và 2 giải ba của Giải Tiến bộ Khoa học và Công nghệ Đông Quan, 1 Giải Tiến bộ Khoa học và Công nghệ Đổi mới Đông Quan và 1 Giải Khoa học và Công nghệ Dược bệnh viện của Hội Dược học Quảng Đông. Trong 5 năm gần đây, với tư cách tác giả liên hệ hoặc tác giả đầu tiên, khoa đã công bố hơn 40 bài báo SCI trên các tạp chí quốc tế nổi tiếng như Nature Microbiology, Nature Communications, Hepatology và ISME Journal; trong đó có 5 bài có hệ số ảnh hưởng >10, và bài báo có hệ số ảnh hưởng cao nhất vượt 30 điểm. Khoa cũng tham gia biên soạn Đồng thuận chuyên gia Trung Quốc về điều trị phong bế rễ thần kinh tủy sống ngực, phiên bản 2024, được cấp 1 bằng sáng chế phát minh quốc gia và 7 bằng độc quyền giải pháp hữu ích, chuyển giao ứng dụng 1 thành quả, đồng thời xuất bản 9 sách chuyên khảo, qua đó thúc đẩy sự phát triển chất lượng cao của chẩn đoán và điều trị lâm sàng bằng đổi mới nghiên cứu.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn