Nội khoa Răng Hàm Mặt
Khoa Răng Hàm Mặt có tiền thân là Khoa Nha khoa, được thành lập năm 1914. Năm 1945, bệnh viện đổi tên thành “Bệnh viện trực thuộc Đại học Quốc lập Sơn Đông”, Khoa Nha khoa đổi tên thành Khoa Nha học. Năm 1956, khoa đổi tên thành Khoa Răng Hàm Mặt và đảm nhiệm giảng dạy khoa học răng miệng cho các ngành Y, Nhi khoa và Trường Điều dưỡng trực thuộc trường y.
Năm 1996, khoa được Ủy ban Học vị Quốc vụ viện phê duyệt là cơ sở được cấp quyền đào tạo và cấp bằng thạc sĩ, đồng thời bắt đầu tuyển sinh học viên sau đại học.
Năm 1997, khoa được Sở Y tế tỉnh Sơn Đông đánh giá là ngành trọng điểm về y dược và y tế của tỉnh Sơn Đông.
Năm 2000, Bộ môn Răng Hàm Mặt thuộc Trường Y, Đại học Thanh Đảo được chính thức thành lập; năm 2001 bắt đầu tuyển sinh viên đại học chương trình 5 năm.
Năm 2006, khoa được công nhận là phòng thí nghiệm trọng điểm về y học răng hàm mặt lâm sàng trong “Kế hoạch 5 năm lần thứ 11” của các cơ sở giáo dục đại học tỉnh Sơn Đông và là cơ sở giáo dục thường xuyên quốc gia về răng hàm mặt của Bộ Y tế.
Hiện nay, Bệnh viện trực thuộc Trường Y, Đại học Thanh Đảo có 3 cơ sở: cơ sở chính, cơ sở phía Đông và cơ sở phía Tây. Ba cơ sở có tổng cộng 119 nhân viên y tế và điều dưỡng, 66 ghế nha khoa tổng hợp và 43 giường bệnh.
Hiện nay, đây là trung tâm y tế khu vực của bán đảo Sơn Đông, tích hợp điều trị lâm sàng răng miệng, nghiên cứu khoa học và đào tạo nhân lực.
Trong môi trường được bệnh viện hỗ trợ về chính sách và đầu tư kinh phí, sau nhiều năm đào tạo và dự trữ nhân lực, các khoa Bệnh niêm mạc miệng, Bệnh răng và tủy răng, Bệnh nha chu, Nha khoa dự phòng và Nha khoa trẻ em đã trở thành các chuyên khoa thế mạnh. Đặc biệt, Khoa Bệnh niêm mạc miệng đã trở thành chuyên khoa lâm sàng hàng đầu tại bán đảo Sơn Đông. Đội ngũ tập hợp thế mạnh của cả cơ sở phía Đông, phía Tây và cơ sở chính, phát triển thành một tập thể y tế, giảng dạy và nghiên cứu trình độ cao với đầy đủ hướng chuyên môn, đứng đầu là các giảng viên hướng dẫn tiến sĩ và thạc sĩ, lấy nhiều cán bộ kỹ thuật trẻ và trung niên có trình độ cao làm nòng cốt.
Đặc điểm lâm sàng: 1. Điều trị bảo tồn răng bệnh: điều trị và điều trị lại ống tủy tỉ mỉ (hệ thống điều trị ống tủy siêu âm, kỹ thuật trám gutta-percha nóng); điều trị ống tủy dưới kính hiển vi và vi phẫu chóp răng; cố định và phẫu thuật điều trị răng lung lay; điều trị cơ bản bệnh nha chu; điều trị bảo tồn răng chấn thương. 2. Phục hình thẩm mỹ răng: mặt dán nhựa nano cho răng trước và phục hình thẩm mỹ các dạng khiếm khuyết răng; tẩy trắng răng nhiễm fluor, răng tetracycline và răng đổi màu. 3. Phục hồi khiếm khuyết răng bằng inlay và onlay nhựa. 4. Kỹ thuật điều trị không đau bệnh răng ở người lớn. 5. Điều trị không đau bệnh răng trẻ em, trám bít hố rãnh phòng ngừa sâu răng, phòng ngừa và chỉnh hình sớm răng mọc lệch, giáo dục vệ sinh răng miệng, v.v. 6. Điều trị nghiến răng ban đêm và ngáy. 7. Chẩn đoán và điều trị bệnh niêm mạc miệng, đặc biệt các ca khó và phức tạp, thiết kế phác đồ điều trị tại chỗ và toàn thân. Tất cả kỹ thuật chẩn đoán và điều trị đều đạt trình độ tiên tiến trong nước. Các ca phức tạp và khó đến từ những thành phố lân cận như Nhật Chiếu, Chư Thành và Cao Mật.
Khoa Bệnh niêm mạc miệng là một ngành cấp hai thuộc Nội nha. Khoa có 1 giảng viên hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ và 5 giảng viên hướng dẫn học viên cao học; tỷ lệ nhân viên có bằng thạc sĩ trở lên đạt 100%, trình độ học vấn chung của ngành cao. Một người là ủy viên hội đồng Hội Răng Hàm Mặt Trung Quốc, 2 người là ủy viên các ủy ban chuyên môn cấp quốc gia, 2 người là phó chủ nhiệm các tổ chức học thuật cấp tỉnh, và 1 người là phó chủ nhiệm tổ chức học thuật cấp thành phố. Cơ cấu nhân lực hợp lý, lãnh đạo học thuật đang ở độ tuổi sung sức. Mỗi tháng khoa tiếp nhận hơn 1.000 bệnh nhân ngoại trú, chủ yếu đến từ khắp Trung Quốc và các khu vực, thành phố trong tỉnh, giành được sự tin tưởng của người bệnh và đánh giá cao của đồng nghiệp. Khoa thực hiện thành thạo các kỹ thuật và dự án mới tiên tiến như điều trị laser, nội soi miệng, dao điện cao tần, oxy cao áp, tâm lý trị liệu và vật lý trị liệu, đồng thời đã hình thành mô hình điều trị cá thể hóa mang đặc trưng riêng.
Dưới sự lãnh đạo của Giáo sư Đặng Tĩnh, khoa được chia thành 4 hướng chuyên môn trọng điểm: nghiên cứu bệnh bọng nước niêm mạc miệng và thuốc; nghiên cứu tổn thương tiền ung thư miệng và tế bào học bong tróc; nghiên cứu bệnh dạng đốm và dạng lưới của niêm mạc miệng; nghiên cứu hội chứng khô miệng. Tất cả đều có quyền cấp bằng thạc sĩ, năng lực tổng thể đạt trình độ tiên tiến trong tỉnh. Các công việc chủ yếu gồm:
1. Nghiên cứu bệnh bọng nước niêm mạc miệng và thuốc. Khoa đã thiết lập quan hệ hợp tác lâu dài với Đại học Hải dương và cơ sở thử nghiệm thuốc của Bệnh viện trực thuộc Đại học Thanh Đảo, tiến hành đánh giá hiệu quả thuốc điều trị lâm sàng bệnh bọng nước, nghiên cứu thuốc biển có chitosan và các dẫn xuất làm thành phần chính trong lĩnh vực giải phóng thuốc uống kéo dài, và nghiên cứu hàng loạt về đặc tính sinh học của màng giải phóng ornidazole kéo dài. Nhân viên khoa phối hợp với Phòng Bào chế thuốc y học cổ truyền Trung Quốc phát triển thành công nước súc miệng Jinshi, chủ yếu có tác dụng chống viêm, giảm đau và thúc đẩy se niêm mạc. Thuốc đã được sử dụng lâm sàng nhiều năm với hiệu quả rõ rệt.
2. Nhóm chuyên môn về tổn thương tiền ung thư miệng và tế bào học bong tróc đã nhiều năm nghiên cứu cơ chế bệnh sinh và điều trị tổn thương tiền ung thư miệng và ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu cổ. Trong công tác lâm sàng và nghiên cứu, nhóm thành thạo các kỹ thuật nghiên cứu bệnh lý mới như sinh học phân tử, hóa mô miễn dịch, nuôi cấy tế bào và phân tích hình ảnh, luôn tập trung vào sự phát triển và xu hướng nghiên cứu mới của bệnh lý miệng. Nghiên cứu chủ yếu gồm môi trường vi mô khối u và cơ chế phát sinh ung thư miệng, cơ chế phân tử điều hòa sự xâm lấn và biệt hóa của khối u miệng.
3. Nhóm chuyên môn về bệnh dạng đốm và dạng lưới của niêm mạc miệng chủ yếu nghiên cứu cơ chế bệnh và phát triển thuốc điều trị kết hợp y học Trung Quốc và phương Tây. Nhóm có thế mạnh về điều trị tổng hợp bằng thuốc và phẫu thuật cho các bệnh này và các hội chứng miệng khác nhau. Sau nhiều năm tập trung điều trị kết hợp bệnh niêm mạc miệng, nhóm đã phối hợp với Khoa Y học cổ truyền Trung Quốc và Phòng Bào chế thuốc của bệnh viện phát triển thành công màng thuốc điều trị liken, dùng cho bệnh nhân liken phẳng miệng với hiệu quả tốt, qua đó nhận Giải Nhì Khoa học Tự nhiên của Sở Giáo dục tỉnh Sơn Đông.
4. Nhóm chuyên môn về hội chứng khô miệng đã triển khai và hoàn thành nghiên cứu vai trò của điều hòa rối loạn chức năng tế bào lympho B trong cơ chế bệnh sinh của hội chứng Sjögren nguyên phát. Các thành viên chủ chốt thành thạo kỹ thuật thực nghiệm sinh học phân tử, chẩn đoán và điều trị các bệnh tự miễn ở miệng và toàn thân như hội chứng Sjögren và viêm khớp dạng thấp. Họ cũng đã tiến hành nhiều điều tra dịch tễ học và nghiên cứu phòng thí nghiệm về cơ chế bệnh sinh, chẩn đoán và điều trị các bệnh này, có khả năng xử lý toàn diện các bệnh phức tạp và khó.
Lấy trình độ tiên tiến quốc tế của các lĩnh vực tương tự làm chuẩn, đội ngũ tập trung nâng cao trình độ kỹ thuật lâm sàng, tận dụng đầy đủ ưu thế về nhân lực, thiết bị và kỹ thuật của bệnh viện, tối ưu hóa quy trình y tế, dùng các chuyên môn thế mạnh thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của các hướng khác, đồng thời có năng lực xử lý mạnh các ca nặng và khó.
Khoa Răng Hàm Mặt đảm nhiệm giảng dạy chương trình răng hàm mặt 5 năm và các môn chuyên ngành cho sinh viên đại học ngành y lâm sàng 5 năm, 7 năm, chẩn đoán hình ảnh, y học dự phòng và các chuyên ngành khác; đồng thời đảm nhiệm giảng dạy sinh viên quốc tế Nam Á và đào tạo học viên cao học chuyên nghiệp và học thuật.
Kể từ khi được Ủy ban Học vị Quốc vụ viện phê duyệt năm 1996 là cơ sở được cấp quyền đào tạo thạc sĩ, khoa đã tuyển hơn 500 học viên cao học.
Kể từ khi bộ môn răng hàm mặt được thành lập, đã tuyển 550 sinh viên đại học để đào tạo bằng cử nhân.
Kể từ khi khoa được thành lập, đã đào tạo hơn 1.000 học viên đến thực tập nâng cao từ khắp Trung Quốc.
Trong 3 năm gần đây, đã công bố hơn 250 bài báo trên các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước. Đội ngũ đảm nhiệm 30 đề tài nghiên cứu thuộc nhiều loại. Các thành viên có nền tảng nghiên cứu vững chắc, năng lực nghiên cứu khoa học cao và nắm vững nhiều kỹ thuật thực nghiệm tiên tiến.
Trang chính thức của khoaNgày kiểm tra nguồn
Bác sĩ
Hồ sơ bác sĩ: 9
于新波
Bác sĩ ở ngạch phó chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Điều trị theo giai đoạn viêm nha chu trung bình đến nặng và điều trị viêm quanh implant.
吉秋霞
Bác sĩ ở ngạch phó chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)
Lĩnh vực lâm sàng
Chuyên điều trị bệnh nha chu đa chuyên khoa theo tiêu chuẩn và phẫu thuật nha chu thẩm mỹ
孙慧斌
Bác sĩ ở ngạch phó chủ nhiệm (chức danh chuyên môn trong hệ thống Trung Quốc)